Ôn tập Học kì 1 (Phiếu học tập số 1) – Ngữ Văn 8 tập 1

Mục lục [Ẩn]

Chọn đến phần học sinh cần nhanh chóng thông qua mục lục bằng cách click đến phần đó

1. ĐỌC

Phần I: Chọn phương án đúng

Câu 1: Nhận định nào sau đây đúng với bài thơ Chiều hôm nhớ nhà?

Đáp án: A. Đây là bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật.

Lí giải: Bài thơ có 8 câu, mỗi câu 7 chữ, niêm luật chặt chẽ, gieo vần và đối theo đúng quy tắc của thơ Đường luật → thất ngôn bát cú Đường luật.

Câu 2: Yếu tố nào sau đây không có tác dụng giúp ta nhận biết thể thơ của Chiều hôm nhớ nhà?

Đáp án: C. Biện pháp tu từ được sử dụng trong bài thơ.

Lí giải: Biện pháp tu từ (so sánh, đảo ngữ, ẩn dụ…) thuộc về nghệ thuật biểu đạt, có thể xuất hiện trong mọi thể thơ chứ không phải dấu hiệu để nhận biết thể thơ. Còn cách gieo vần, ngắt nhịp, phép đối, số tiếng – số câu đều là các yếu tố thi luật đặc trưng của một thể thơ.

Câu 3: Nghệ thuật đối được thể hiện ở những cặp câu thơ nào?

Đáp án: C. Cặp câu 3 – 4 và 5 – 6.

Lí giải: Theo thi luật thất ngôn bát cú Đường luật, phép đối bắt buộc ở hai cặp Thực (3 – 4)Luận (5 – 6).

  • Câu 3 – 4: “Gác mái ngư ông về viễn phố / Gõ sừng mục tử lại cô thôn”.
  • Câu 5 – 6: “Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi / Dặm liễu sương sa khách bước dồn”.

Câu 4: Những câu nào trong bài thơ có tiếng hiệp vần?

Đáp án: B. Các câu 1 – 2 – 4 – 6 – 8.

Lí giải: Các tiếng cuối câu 1, 2, 4, 6, 8 lần lượt là: hôn – đồn – thôn – dồn – ôn → đều hiệp vần “ôn”. Đây là cách gieo vần đặc trưng của thơ thất ngôn bát cú Đường luật.

Câu 5: Biện pháp tu từ nào được tác giả sử dụng ở hai câu thơ sau? “Gác mái ngư ông về viễn phố, / Gõ sừng mục tử lại cô thôn.”

Đáp án: C. Biện pháp tu từ đảo ngữ.

Lí giải: Trật tự thông thường phải là “Ngư ông gác mái về viễn phố / Mục tử gõ sừng lại cô thôn”. Tác giả đảo động từ – tân ngữ (“Gác mái”, “Gõ sừng”) lên đầu câu để nhấn mạnh hành động, tạo nét trang nhã, cổ kính cho lời thơ.

Câu 6: Trong bài thơ, cảnh thiên nhiên và bức tranh sinh hoạt của con người có mối liên hệ như thế nào?

Đáp án: B. Cảnh thiên nhiên và bức tranh sinh hoạt hoà điệu với nhau, cùng thể hiện nỗi niềm của nhà thơ.

Lí giải: Cảnh thiên nhiên chiều tà bảng lảng cùng bức tranh sinh hoạt (ngư ông về bến, mục tử về thôn) đều mang vẻ buồn vắng, đượm sầu, làm nền cho nỗi niềm nhớ quê của lữ khách – tức nỗi lòng của chính tác giả.

Phần II: Trả lời câu hỏi

Câu 1: Dựa vào đâu để có thể khẳng định Chiều hôm nhớ nhà là một bài thơ trữ tình?

Có thể khẳng định Chiều hôm nhớ nhà là một bài thơ trữ tình dựa vào những căn cứ sau:

  • Nhan đề bài thơ đã trực tiếp gọi tên một cảm xúc: “nhớ nhà” – báo hiệu đây là bài thơ thiên về bộc lộ tình cảm.
  • Cảnh vật trong bài đều in đậm dấu ấn tâm trạng của con người: bóng hoàng hôn bảng lảng, tiếng ốc xa đưa, ngàn mai, dặm liễu, sương sa… tất cả đều buồn vắng, đượm sầu.
  • Hai câu kết trực tiếp bộc lộ tâm sự, nỗi niềm cô đơn của chủ thể trữ tình: “Kẻ chốn Chương Đài người lữ thứ / Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn”.
  • Chủ thể trữ tình (“khách”, “người lữ thứ”) hiện diện rõ trong bài, mang theo tâm trạng và cảm xúc xuyên suốt.

Câu 2: Những hình ảnh nào trong bài thơ có tác dụng làm nổi bật nhan đề Chiều hôm nhớ nhà?

Những hình ảnh làm nổi bật nhan đề:

a) Gợi không khí “chiều hôm”:

  • “Bảng lảng bóng hoàng hôn” – ánh sáng cuối ngày mờ dần.
  • “Tiếng ốc xa đưa vẳng trống đồn” – âm thanh báo hiệu ngày tàn.
  • “Ngàn mai gió cuốn”, “dặm liễu sương sa” – không gian buổi chiều mờ sương.

b) Gợi nỗi “nhớ nhà”:

  • “Ngư ông về viễn phố”, “mục tử lại cô thôn” – cảnh mọi người đều trở về nhà sau một ngày làm việc.
  • “Khách bước dồn” – chủ thể trữ tình lại đang lưu lạc nơi đất khách.
  • “Kẻ chốn Chương Đài người lữ thứ” – đối lập giữa người ở quê và người xa quê.
  • “Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn” – nỗi nhớ nhà, nhớ người thân không biết tỏ cùng ai.

Câu 3: Em cảm nhận như thế nào về phong cảnh thiên nhiên và bức tranh sinh hoạt của con người được khắc hoạ trong bài thơ?

  • Phong cảnh thiên nhiên: hiện lên trong thời điểm chiều tà, không gian khoáng đạt (ngàn mai, dặm liễu, bến sông xa…) nhưng đượm vẻ tiêu sơ, hoang vắng, buồn vương. Ánh hoàng hôn bảng lảng, sương sa, gió cuốn… tất cả tạo nên một bức tranh thiên nhiên đẹp nhưng buồn.
  • Bức tranh sinh hoạt của con người: diễn ra vào thời điểm cuối ngày – mọi người đều trở về nhà sau ngày lao động (ngư ông về “viễn phố”, mục tử về “cô thôn”). Tuy nhiên, không gian trở về cũng đượm vẻ xa xôi, lẻ loi. Đặc biệt, hình ảnh người khách lữ thứ đang “bước dồn” trên đường xa, không có ai cùng tâm sự – càng làm nổi bật nỗi cô đơn của chủ thể trữ tình.

→ Cả hai bức tranh đều mang sắc thái buồn vắng, hoà điệu để cùng thể hiện nỗi niềm nhớ quê, nhớ nhà của tác giả.

Câu 4: Tâm trạng của tác giả thể hiện như thế nào trong bài thơ?

Bài thơ thể hiện một tâm trạng:

  • Cô đơn, lẻ loi giữa cảnh chiều tà nơi đất khách quê người.
  • Nhớ nhung tha thiết quê nhà, người thân.
  • Mỏi mệt, chán chường trên hành trình xa xôi (qua các từ “bay mỏi”, “bước dồn”).
  • Khao khát có người sẻ chia nỗi niềm tâm sự (“Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn”).

→ Đó là tâm trạng đặc trưng của một lữ khách tha hương – nỗi buồn thanh tao, man mác mà sâu lắng, rất tiêu biểu cho phong cách thơ của Bà Huyện Thanh Quan.

Câu 5: Đọc các chú thích trong văn bản, em có nhận xét gì về cách dùng từ ngữ của tác giả?

Qua các chú thích trong văn bản, có thể nhận thấy:

  • Bà Huyện Thanh Quan sử dụng mật độ dày đặc các từ Hán Việt: tiếng ốc, ngư ông, viễn phố, mục tử, cô thôn, Chương Đài, lữ thứ, hàn ôn
  • Cách dùng từ này tạo nên vẻ trang nhã, cổ kính, hoài cổ cho bài thơ – một nét đặc trưng nổi bật trong phong cách thơ của bà.
  • Đồng thời, các từ Hán Việt cũng giúp lời thơ trở nên hàm súc, giàu sức gợi, phù hợp với cảm hứng hoài niệm và nỗi buồn thanh tao mà tác giả muốn gửi gắm.

2. VIẾT

Viết đoạn văn (khoảng 10 – 15 câu) phân tích cảnh và tình trong bài thơ Chiều hôm nhớ nhà của Bà Huyện Thanh Quan.

Đoạn văn tham khảo:

Bài thơ Chiều hôm nhớ nhà của Bà Huyện Thanh Quan là một tác phẩm đặc sắc, trong đó cảnhtình hoà quyện với nhau một cách tinh tế. Ngay từ hai câu đề, tác giả đã mở ra một không gian chiều tà “bảng lảng bóng hoàng hôn” với tiếng ốc xa vẳng và tiếng trống đồn – những âm thanh báo hiệu một ngày sắp tàn. Cảnh ấy không chỉ là cảnh, mà còn là nỗi niềm thấm vào lòng người, gợi cảm giác cô liêu, hoang vắng. Đến hai câu thực, bức tranh sinh hoạt hiện ra với “ngư ông về viễn phố”“mục tử lại cô thôn” – mọi người đều trở về nơi sum vầy sau một ngày lao động. Phép đảo ngữ kết hợp với từ Hán Việt làm cho lời thơ thêm trang nhã, đồng thời cũng càng làm nổi bật sự lẻ loi của chủ thể trữ tình giữa cảnh người người tìm về tổ ấm. Hai câu luận tiếp tục mở rộng không gian với “ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi”“dặm liễu sương sa khách bước dồn” – những hình ảnh đối nhau chỉnh tề khắc hoạ một con đường tha hương dài vô tận. Các từ “bay mỏi”, “bước dồn” gợi tả nỗi mệt mỏi, chán chường của người lữ khách trên hành trình xa xôi. Để rồi đến hai câu kết, nỗi lòng được bộc lộ trực tiếp: “Kẻ chốn Chương Đài người lữ thứ / Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn”. Câu thơ vừa như một lời than, vừa như một câu hỏi không lời đáp, để lại trong lòng người đọc dư âm sâu lắng. Bằng nghệ thuật tả cảnh ngụ tình bậc thầy, kết hợp với ngôn ngữ Hán Việt trang nhã, phép đối chỉnh tề và đảo ngữ tinh tế, Bà Huyện Thanh Quan đã dệt nên một bức tranh chiều tà đẹp mà buồn, qua đó gửi gắm nỗi nhớ nhà da diếttâm sự hoài cổ của một tâm hồn nhạy cảm. Chiều hôm nhớ nhà vì thế trở thành một trong những bài thơ trữ tình tiêu biểu của thơ Nôm Đường luật Việt Nam.

3. NÓI VÀ NGHE

Đề tài: Giữ gìn tiếng nói của cha ông phải chăng cũng là một cách thể hiện lòng yêu nước?

a. Chuẩn bị nội dung thảo luận

Mở đầu: Nêu vấn đề – tiếng nói là tài sản tinh thần quý báu của dân tộc; giữ gìn tiếng nói có phải là biểu hiện của lòng yêu nước?

Triển khai – các ý chính:

(1) Vì sao giữ gìn tiếng nói của cha ông là một cách thể hiện lòng yêu nước?

  • Tiếng nói là linh hồn của dân tộc, là “thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu” (Hồ Chí Minh). Mỗi dân tộc có ngôn ngữ riêng, ngôn ngữ ấy chính là bản sắc, là căn cước văn hoá của dân tộc.
  • Trong lịch sử, dân tộc ta đã trải qua hàng nghìn năm Bắc thuộc và gần một thế kỉ Pháp thuộc nhưng vẫn giữ vững tiếng nói – đó là một chiến thắng văn hoá vĩ đại, là minh chứng cho sức sống bất diệt của dân tộc.
  • Khi yêu tiếng nói cha ông, ta yêu lịch sử, văn hoá, truyền thống của dân tộc. Yêu tiếng Việt cũng là yêu chính nguồn cội, quê hương mình.
  • Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt là một cách bảo vệ chủ quyền văn hoá, góp phần khẳng định vị thế của dân tộc trên trường quốc tế.

(2) Thực trạng việc giữ gìn tiếng Việt hiện nay

  • Mặt tích cực: nhiều người, đặc biệt là các nhà nghiên cứu, nhà giáo, nhà văn… đang nỗ lực giữ gìn và phát huy vẻ đẹp của tiếng Việt.
  • Mặt tiêu cực:
    • Hiện tượng lạm dụng tiếng nước ngoài trong giao tiếp hằng ngày, đặc biệt ở giới trẻ (chêm tiếng Anh khi nói tiếng Việt dù đã có từ Việt tương đương).
    • Sử dụng tiếng lóng, ngôn ngữ mạng một cách tuỳ tiện, làm mất đi sự trong sáng của tiếng Việt.
    • Viết sai chính tả, dùng từ thiếu chuẩn xác trên mạng xã hội ngày càng phổ biến.

(3) Học sinh cần làm gì để giữ gìn tiếng Việt?

  • Học tốt môn Ngữ văn ở nhà trường, đặc biệt là tiếng Việt – nắm vững quy tắc chính tả, ngữ pháp.
  • Đọc nhiều sách báo bằng tiếng Việt, đặc biệt là tác phẩm văn học, để tiếp xúc với tiếng Việt chuẩn mực, giàu đẹp.
  • Sử dụng tiếng Việt đúng chuẩn trong giao tiếp, hạn chế chêm tiếng nước ngoài khi không cần thiết.
  • Cẩn trọng khi viết trên mạng xã hội, tránh viết sai chính tả, lạm dụng tiếng lóng.
  • Tuyên truyền, nhắc nhở bạn bè cùng giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.

Kết luận:

Khẳng định: giữ gìn tiếng nói của cha ông chính là một biểu hiện thiết thực của lòng yêu nước. Mỗi học sinh hôm nay cần ý thức trách nhiệm của mình trong việc bảo vệ và làm giàu thêm tiếng Việt.

b. Tập luyện thảo luận

Một số gợi ý khi luyện tập:

  • Nói rõ ràng, mạch lạc, đúng giờ quy định.
  • Trình bày luận điểm kèm theo dẫn chứng cụ thể (câu nói của Bác Hồ, Phạm Văn Đồng; ví dụ từ thực tế đời sống).
  • Kết hợp ngôn ngữ cơ thể (ánh mắt, cử chỉ) để tăng sức thuyết phục.
  • Lắng nghe ý kiến của bạn cùng nhóm, ghi chép và trao đổi trên tinh thần xây dựng.
  • Tôn trọng ý kiến trái chiều, đặt câu hỏi và phản biện một cách lịch sự.
Thầy Nguyễn Thái Nhật Luật

Thầy Nguyễn Thái Nhật Luật

(Người kiểm duyệt, ra đề)

Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Ngữ Văn THCS

Trình độ: Cử nhân Sư phạm Ngữ Văn, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ B1

Kinh nghiệm: 8+ năm kinh nghiệm tại THCS Hồng Bàng