Soạn Bài: Thực hành tiếng Việt trang 48 – Ngữ Văn 8 tập 2

I. Lý thuyết trọng tâm

1. Biện pháp tu từ

a) Nhân hoá là biện pháp tu từ gọi hoặc tả con vật, cây cối, đồ vật… bằng những từ ngữ vốn được dùng để gọi hoặc tả con người, làm cho thế giới loài vật, cây cối, đồ vật trở nên gần gũi với con người.

Ví dụ: “Trâu ơi ta bảo trâu này / Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta”trâu được gọi như con người (ơi, bảo, cày với ta).

b) Điệp ngữ là biện pháp tu từ lặp lại một từ, một cụm từ hoặc cả câu nhằm nhấn mạnh nội dung, tăng tính biểu cảm.

Ví dụ: “Học, học nữa, học mãi” (Lê-nin) — từ “học” được lặp lại 3 lần để nhấn mạnh.

c) So sánh là biện pháp tu từ đối chiếu hai sự vật, sự việc khác nhau nhưng có nét tương đồng, nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm.

Ví dụ: “Trẻ em như búp trên cành” (Hồ Chí Minh) — so sánh trẻ em với búp trên cành.

d) Đảo ngữ là biện pháp tu từ đảo trật tự thông thường của các thành phần trong câu (đưa thành phần phụ lên trước chủ ngữ, hoặc đảo vị ngữ lên trước chủ ngữ…) nhằm nhấn mạnh, gây ấn tượng hoặc tạo nhịp điệu cho lời văn.

Ví dụ: Lom khom dưới núi, tiều vài chú” (Bà Huyện Thanh Quan) — đưa “lom khom dưới núi” lên trước “tiều vài chú” để nhấn mạnh dáng vẻ nhỏ bé, lam lũ.

2. Nghĩa của từ

Nghĩa của từ là nội dung (sự vật, tính chất, hoạt động, quan hệ…) mà từ biểu thị. Có hai cách giải thích nghĩa của từ:

  • Trình bày khái niệm mà từ biểu thị.
  • Đưa ra những từ đồng nghĩa hoặc trái nghĩa với từ cần giải thích.

Ví dụ: giải nghĩa từ “vội vã”(cách 1) hành động làm rất nhanh, gấp gáp; (cách 2) đồng nghĩa với hối hả, khẩn trương.

3. Lựa chọn cấu trúc câu

Câu trong tiếng Việt có cấu trúc khá ổn định. Tuy nhiên, người viết có thể thay đổi trật tự các thành phần trong câu để đạt được mục đích giao tiếp nhất định: nhấn mạnh ý, thay đổi trọng tâm thông tin, tạo hiệu quả biểu cảm…

Ví dụ:

  • “Tôi rất yêu mẹ.” (trật tự thông thường, nhấn mạnh chủ thể tôi)
  • “Mẹ, tôi rất yêu.” (đảo mẹ lên đầu, nhấn mạnh đối tượng được yêu).

II. Luyện tập

Bài 1: Nêu tác dụng của các biện pháp tu từ được sử dụng trong các trường hợp sau.

Câu a: “Em đứng bên đường / như quê hương.” (Nguyễn Đình Thi, Lá đỏ)

  • Biện pháp tu từ: so sánh (“em” như “quê hương”).
  • Tác dụng: gợi hình ảnh người em gái thanh niên xung phong gần gũi, thân thương, mang bóng dáng bình dị của quê nhà. Gặp em, người lính như được gặp lại quê hương, được tiếp thêm sức mạnh cho những chặng đường hành quân phía trước.

Câu b: “Con đường nhựa ban đêm, sau cơn mưa mùa hạ rộng ra, dài ra, lấp loáng ánh đèn, trông như một con sông nước đen. Những ngọn điện trên quảng trường lung linh như những ngôi sao trong câu chuyện cổ tích nói về những xứ sở thần tiên.” (Lê Minh Khuê, Những ngôi sao xa xôi)

  • Biện pháp tu từ: so sánh.
  • Tác dụng: gợi lên những hình ảnh đẹp vừa bí ẩn (“con sông nước đen”), vừa lung linh, huyền ảo (“những ngôi sao trong câu chuyện cổ tích”) qua đôi mắt trẻ thơ trong kí ức của Phương Định. Những hình ảnh đó đối lập với hiện thực khốc liệt nơi chiến trường, qua đó gián tiếp tố cáo chiến tranh và làm nổi bật ý nghĩa cao cả của sự hi sinh tuổi trẻ.

Câu c: “Cao điểm bây giờ thật vắng. Chỉ có Nho và chị Thao. bom. tôi ngồi đây. cao xạ đặt bên kia quả đồi. Cao xạ đang bắn.” (Lê Minh Khuê, Những ngôi sao xa xôi)

  • Biện pháp tu từ: điệp ngữ (từ “và” được lặp lại 4 lần).
  • Tác dụng: liệt kê, nhấn mạnh sự hiện diện của từng sự vật, con người trên cao điểm, qua đó khẳng định tính chất vắng vẻ đến bất ngờ của cao điểm – một sự vắng vẻ đáng sợ khiến con người cảm thấy cô đơn giữa không gian mênh mông.

Câu d: “Nho vẫn thì thầm. Nó cũng đang ở trạng thái như tôi. Yêu tất cả. Tình yêu của những con người trong khói lửa. Tình yêu độ lượng, tha thiết, vô tư mà kẻ độc quyền có nó trong tim là những người chiến sĩ.” (Lê Minh Khuê, Những ngôi sao xa xôi)

  • Biện pháp tu từ: điệp ngữ (từ “tình yêu” được lặp lại 2 lần).
  • Tác dụng: nhấn mạnh, tô đậm tình cảm trào dâng mãnh liệt trong trái tim của Nho và Phương Định dành cho những người lính ra trận; cũng là tình cảm gắn bó của những người chiến sĩ dành cho nhau trong khói lửa chiến tranh.

Câu e: “Máy bay trinh sát vẫn nạo vét sự yên lặng của núi rừng.” (Lê Minh Khuê, Những ngôi sao xa xôi)

  • Biện pháp tu từ: nhân hoá (“nạo vét sự yên lặng”).
  • Tác dụng: diễn tả âm thanh sắc lạnh của máy bay trinh sát đang quần đảo, phá tan sự yên lặng, thanh bình của núi rừng. Qua đó gợi lên tính chất khốc liệt của cao điểm – nơi ba cô gái đang làm nhiệm vụ phá bom mở đường.

Bài 2: Thử thay thế những từ ngữ in đậm bằng từ ngữ đồng nghĩa, từ đó nhận xét về giá trị biểu đạt của những từ ngữ được tác giả sử dụng.

Ngữ liệu Từ thay thế Nhận xét về giá trị biểu đạt của từ tác giả dùng
a. “Gặp em trên cao lộng gió / Rừng lạ ào ào lá đỏ.” gió lộng, gió mạnh / rào rào Lộng gió miêu tả gió thổi mạnh ở nơi cao, trống trải; gợi không gian khoáng đạt, hùng vĩ của đỉnh Trường Sơn. Ào ào vừa gợi thanh (tiếng gió thổi) vừa gợi hình (lá rụng nhanh, nhiều như thác đổ), cộng hưởng với không khí hành quân hối hả.
b. “Đoàn quân vẫn đi vội vã / Bụi Trường Sơn nhoà trời lửa.” hối hả, khẩn trương / nhoè Vội vã gợi hình ảnh đoàn quân hành quân gấp gáp, tranh thủ từng giây phút cho kịp chiến dịch, với tâm trạng căng thẳng. Nhoà tái hiện không gian Trường Sơn với bụi cuốn dày đặc hoà vào bầu trời khói lửa, làm nổi bật tính chất khốc liệt của chiến tranh.
c. “Cười thì hàm răng trắng loá trên khuôn mặt nhem nhuốc.” trắng tinh Trắng loá vừa miêu tả sắc màu vừa gợi hiệu ứng ánh sáng: màu trắng như toả sáng trên nền khuôn mặt lấm bùn đất, làm nổi bật vẻ đẹp hồn nhiên, lạc quan của các cô thanh niên xung phong giữa khói bụi chiến trường.

Bài 3: Hãy điền vào bảng so sánh sự khác nhau về ý nghĩa giữa câu trong văn bản và câu thay đổi cấu trúc.

STT Câu trong văn bản Câu thay đổi cấu trúc Sự khác nhau về ý nghĩa
1 Sốt ruột, tôi chạy ra ngoài một tí. Tôi sốt ruột, chạy ra ngoài một tí. Câu trong văn bản sử dụng đảo ngữ, đưa từ “sốt ruột” lên đầu để nhấn mạnh tâm trạng – chính là nguyên nhân của hành động chạy ra ngoài. Qua đó làm nổi bật nỗi lo lắng của Phương Định cho sự an toàn của đồng đội.
2 Xung quanh cao điểm vắng vẻ này có bao nhiêu là người. Có bao nhiêu là người xung quanh cao điểm vắng vẻ này. Câu gốc nói về không gian trước, con người sau – nhấn mạnh sự hiện diện của đồng chí, đồng đội xung quanh cao điểm, cho thấy các cô gái trên cao điểm không hề cô đơn. Câu đổi cấu trúc thì ngược lại, đặt trọng tâm vào con người.
3 Chỉ cần chúng tôi bắn một phát súng báo hiệu yêu cầu giúp đỡ là họ sẽ chạy đến ngay. Họ sẽ chạy đến ngay nếu chúng tôi bắn một phát súng báo hiệu yêu cầu giúp đỡ. Câu gốc nêu điều kiện trước, kết quả sau, nhấn mạnh tính kịp thời trong việc hỗ trợ cao điểm của những người đồng chí. Câu đổi cấu trúc nêu kết quả trước, làm giảm tính nhấn mạnh đó.
4 Uống sữa xong, Nho ngủ. Nho uống sữa xong rồi ngủ. Câu gốc đưa hành động “uống sữa xong” lên đầu, trọng tâm là các hành động nối tiếp (uống sữa → ngủ). Câu đổi cấu trúc đưa chủ thể “Nho” lên đầu, làm trọng tâm chuyển sang chủ thể, không còn nhấn mạnh chuỗi hành động nữa.
Thầy Nguyễn Thái Nhật Luật

Thầy Nguyễn Thái Nhật Luật

(Người kiểm duyệt, ra đề)

Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Ngữ Văn THCS

Trình độ: Cử nhân Sư phạm Ngữ Văn, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ B1

Kinh nghiệm: 8+ năm kinh nghiệm tại THCS Hồng Bàng