Chọn đến phần học sinh cần nhanh chóng thông qua mục lục bằng cách click đến phần đó
Câu hỏi mở đầu trang 72
Đề bài: Xung quanh con người có rất nhiều tác nhân gây bệnh như virus, vi khuẩn, nấm,… nhưng xác suất mắc bệnh ở người lại nhỏ. Vì sao?
Lời giải:
Xác suất mắc bệnh ở người nhỏ là do cơ thể có hệ miễn dịch bảo vệ. Hệ miễn dịch gồm hai phòng tuyến:
- Miễn dịch không đặc hiệu: hàng rào vật lí, hoá học (da, dịch nhày, acid dạ dày,…) và các đáp ứng không đặc hiệu (thực bào, viêm, sốt,…).
- Miễn dịch đặc hiệu: miễn dịch dịch thể (kháng thể) và miễn dịch tế bào (tế bào T độc) — chống lại từng loại mầm bệnh cụ thể.
Nhờ hai phòng tuyến này, hầu hết mầm bệnh bị ngăn chặn hoặc tiêu diệt trước khi gây bệnh → xác suất mắc bệnh nhỏ.
I. Nguyên nhân gây bệnh ở người và động vật
Câu 1 trang 72
Đề bài: Ghép đúng tác nhân sinh học (1, 2, 3 hoặc 4) với cách thức gây bệnh (A, B, C hoặc D).
Lời giải:
- 1 – B: Vi khuẩn giải phóng độc tố, huỷ hoại các tế bào cơ thể.
- 2 – D: Virus xâm nhập vào tế bào và can thiệp vào hoạt động của tế bào để tạo ra các phần tử mới, gây suy yếu, huỷ hoại các tế bào cơ thể.
- 3 – A: Vi nấm xuyên thủng tế bào cơ thể, lấy chất dinh dưỡng từ tế bào, huỷ hoại các tế bào mà chúng kí sinh.
- 4 – C: Giun, sán lấy chất dinh dưỡng trong ống tiêu hoá của người và động vật, làm suy yếu cơ thể, có thể gây tử vong.
Câu 2 trang 73
Đề bài: Ghép đúng tác nhân vật lí (1, 2, 3, 4 hoặc 5) với cách thức gây bệnh (A, B, C, D hoặc E).
Lời giải:
- 1 – D: Tác nhân cơ học gây giập nát, tổn thương mô, cơ quan.
- 2 – A: Nhiệt độ cao gây biến tính protein, gây bỏng.
- 3 – E: Dòng điện gây giật, bỏng tại chỗ hoặc toàn thân.
- 4 – C: Ánh sáng mặt trời mạnh gây tổn thương DNA, có thể gây ung thư da.
- 5 – B: Âm thanh lớn kéo dài gây giảm thính lực hoặc điếc.
Câu 3 trang 73
Đề bài: Ghép đúng tác nhân hoá học (1, 2 hoặc 3) với cách thức gây bệnh (A, B hoặc C).
Lời giải:
- 1 – C: Acid, kiềm gây bỏng trên diện rộng hoặc hẹp.
- 2 – B: Chất cyanide trong nấm, măng gây ngộ độc cấp tính, có thể gây tử vong.
- 3 – A: Tetrodotoxin trong cá nóc là độc tố thần kinh, gây liệt vận động, ngừng hô hấp.
Câu 4 trang 73
Đề bài: Ghép đúng nguyên nhân bên trong (1, 2) với cách thức gây bệnh (A, B).
Lời giải:
- 1 – B: Yếu tố di truyền gây ra nhiều bệnh như bệnh bạch tạng, mù màu.
- 2 – A: Tuổi già làm thoái hoá mô thần kinh, thoái hoá võng mạc.
III. Miễn dịch không đặc hiệu
Câu 1 trang 75
Đề bài: Miễn dịch không đặc hiệu bảo vệ cơ thể chống lại mầm bệnh như thế nào?
Lời giải:
Miễn dịch không đặc hiệu bảo vệ cơ thể qua 2 hàng rào:
a) Hàng rào bảo vệ vật lí và hoá học: ngăn chặn mầm bệnh xâm nhập qua các hệ tiếp xúc với môi trường.
- Da: lớp sừng và tế bào biểu bì chết ép chặt ngăn mầm bệnh; vi khuẩn vô hại trên da cạnh tranh với vi khuẩn gây bệnh.
- Hệ tiêu hoá: lysozyme trong nước bọt, acid và enzyme pepsin trong dạ dày tiêu diệt vi khuẩn, virus, nấm.
- Hệ hô hấp: dịch nhày trong khí quản, phế quản giữ bụi và mầm bệnh; lông nhỏ đẩy dịch nhày lên hầu.
- Hệ bài tiết, sinh dục: pH thấp trong âm đạo và nước tiểu ức chế nấm, virus, vi khuẩn; dòng nước tiểu cuốn trôi mầm bệnh.
b) Các đáp ứng không đặc hiệu: khi mầm bệnh vượt qua được hàng rào trên.
- Thực bào: đại thực bào, bạch cầu trung tính nuốt và tiêu diệt mầm bệnh; tế bào giết tự nhiên phá huỷ tế bào nhiễm virus và tế bào khối u.
- Viêm: vùng tổn thương giải phóng histamin → mạch máu dãn, tăng tính thấm → nhiều bạch cầu đến thực bào mầm bệnh.
- Sốt: tăng nhiệt độ cơ thể → ức chế vi khuẩn, virus tăng sinh; tăng hoạt động thực bào của bạch cầu.
- Tạo peptide, protein chống mầm bệnh: interferon (chống virus), hệ thống bổ thể (làm tan vi khuẩn).
Câu 2 trang 75
Đề bài: Tại sao sốt vừa có ích lại vừa có hại đối với cơ thể?
Lời giải:
Sốt có ích vì có tác dụng bảo vệ cơ thể:
- Ức chế vi khuẩn, virus tăng sinh.
- Làm gan tăng nhận sắt từ máu → giảm lượng sắt cho vi khuẩn (vi khuẩn cần sắt để sinh sản).
- Tăng hoạt động thực bào của bạch cầu → tiêu diệt mầm bệnh mạnh hơn.
Sốt có hại khi sốt quá cao (trên 39°C) có thể gây co giật, hôn mê, thậm chí tử vong.
IV. Miễn dịch đặc hiệu
Câu 1 trang 78
Đề bài: Phân biệt miễn dịch không đặc hiệu và miễn dịch đặc hiệu.
Lời giải:
| Tiêu chí | Miễn dịch không đặc hiệu | Miễn dịch đặc hiệu |
|---|---|---|
| Tên gọi khác | Miễn dịch bẩm sinh, miễn dịch tự nhiên | Miễn dịch thích ứng, miễn dịch thu được |
| Tính đặc hiệu | Không đặc hiệu – đáp ứng giống nhau với các mầm bệnh khác nhau | Đặc hiệu – chống lại từng mầm bệnh riêng biệt |
| Có ở | Tất cả động vật | Chỉ có ở động vật có xương sống |
| Thành phần | Hàng rào vật lí, hoá học và các đáp ứng không đặc hiệu (thực bào, viêm, sốt, peptide và protein chống mầm bệnh) | Miễn dịch dịch thể (tế bào B, kháng thể) và miễn dịch tế bào (tế bào T độc) |
Câu 2 trang 78
Đề bài: Tế bào B, tế bào T và kháng thể nhận diện kháng nguyên tương ứng như thế nào?
Lời giải:
- Trên màng của tế bào B và tế bào T có các thụ thể kháng nguyên.
- Thụ thể có vùng nhận diện và gắn với kháng nguyên qua quyết định kháng nguyên (epitope) tương ứng, giống như chìa khoá với ổ khoá.
- Kháng thể (do tương bào tiết ra từ tế bào B) cũng có vùng nhận diện và gắn với kháng nguyên qua quyết định kháng nguyên tương tự.
- Tất cả thụ thể kháng nguyên trên một tế bào B hoặc T đều giống hệt nhau → chỉ gắn với một loại kháng nguyên tương ứng.
- Tương tự, tất cả kháng thể do một dòng tế bào B tạo ra cũng giống hệt nhau → chỉ gắn với một loại kháng nguyên.
Câu 3 trang 78
Đề bài: Tại sao hiệu quả bảo vệ cơ thể của đáp ứng miễn dịch thứ phát cao hơn nhiều so với đáp ứng miễn dịch nguyên phát?
Lời giải:
- Sau đáp ứng miễn dịch nguyên phát (lần đầu tiếp xúc kháng nguyên), cơ thể tạo ra các tế bào nhớ (tế bào B nhớ, tế bào T nhớ).
- Khi tiếp xúc lại với chính loại kháng nguyên đó → tế bào nhớ hoạt hoá nhanh → tạo ra đáp ứng miễn dịch thứ phát.
Đáp ứng thứ phát có ưu thế hơn nguyên phát ở 3 điểm:
- Nhanh hơn: chỉ mất 2 – 3 ngày (so với 7 – 10 ngày ở đáp ứng nguyên phát).
- Số lượng tế bào miễn dịch và kháng thể nhiều hơn.
- Duy trì ở mức cao trong thời gian dài hơn.
→ Nhờ đó, mầm bệnh bị tiêu diệt nhanh chóng, cơ thể không bị bệnh hoặc nếu có thì cũng rất nhẹ.
V. Các bệnh phát sinh do chức năng hệ miễn dịch bị phá vỡ
Câu 1 trang 79
Đề bài: Những bệnh nào có thể xuất hiện khi chức năng hệ miễn dịch bị phá vỡ?
Lời giải:
Khi chức năng hệ miễn dịch bị phá vỡ, có thể xuất hiện các bệnh sau:
- Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải (AIDS): do virus HIV tấn công và tiêu diệt tế bào T hỗ trợ → hệ miễn dịch suy yếu → nhiều bệnh cơ hội phát triển (lao, tiêu chảy, viêm não, viêm phổi, ung thư,…).
- Bệnh ung thư: các tế bào cơ thể phân chia bất thường, không kiểm soát, tạo thành khối u ác tính; hệ miễn dịch suy yếu khiến cơ thể không tiêu diệt được tế bào ung thư và mầm bệnh khác.
- Bệnh tự miễn: hệ miễn dịch mất khả năng phân biệt kháng nguyên “lạ” với tế bào của chính cơ thể → tấn công, huỷ hoại tế bào và cơ quan của cơ thể (ví dụ: tiểu đường type I do tế bào T tấn công tế bào sản xuất insulin của tuyến tuỵ).
Luyện tập và vận dụng
Câu 1 trang 79
Đề bài: Tại sao tiêm vaccine có thể giúp phòng một số bệnh do virus và vi khuẩn gây ra ở người và vật nuôi?
Lời giải:
- Vaccine chứa kháng nguyên đã được xử lí (vi khuẩn, virus đã chết hoặc suy yếu; protein tái tổ hợp; gene hoặc RNA mã hoá protein của mầm bệnh,…) → không còn khả năng gây bệnh nhưng vẫn có khả năng kích thích đáp ứng miễn dịch.
- Khi tiêm vaccine → cơ thể tạo ra đáp ứng miễn dịch nguyên phát → sinh ra các tế bào nhớ (tế bào B nhớ, tế bào T nhớ) và kháng thể đặc hiệu với mầm bệnh đó.
- Khi mầm bệnh thực sự xâm nhập vào cơ thể → các tế bào nhớ nhanh chóng hoạt hoá → tạo đáp ứng miễn dịch thứ phát nhanh và mạnh → tiêu diệt mầm bệnh trước khi chúng gây bệnh.
→ Nhờ vậy, cơ thể được bảo vệ khỏi mắc bệnh (hoặc nếu có mắc thì cũng rất nhẹ).
Câu 2 trang 79
Đề bài: Tìm gặp những người phụ trách y tế, những người phụ trách thú y của địa phương và đề nghị họ cho biết:
- Địa phương đã tiêm vaccine phòng chống những bệnh nào cho trẻ em và người lớn?
- Những loài động vật nuôi nào ở địa phương đã được tiêm vaccine phòng bệnh và phòng những bệnh nào?
Lời giải:
Đây là câu điều tra thực tế, học sinh cần tự tìm hiểu ở địa phương. Dưới đây là bảng tham khảo một số vaccine phổ biến:
Vaccine cho người (thuộc Chương trình tiêm chủng mở rộng ở Việt Nam):
| Đối tượng | Vaccine phòng bệnh |
|---|---|
| Trẻ em | Lao (BCG); viêm gan B; bạch hầu, ho gà, uốn ván, viêm gan B, viêm phổi/màng não do Hib (vaccine 5 trong 1); bại liệt; sởi; sởi – rubella; viêm não Nhật Bản |
| Người lớn | Cúm mùa; COVID-19; uốn ván; HPV (ung thư cổ tử cung); viêm gan A, B |
Vaccine cho vật nuôi phổ biến ở Việt Nam:
| Vật nuôi | Vaccine phòng bệnh |
|---|---|
| Gà, vịt | Cúm gia cầm, Newcastle, dịch tả, tụ huyết trùng |
| Lợn | Dịch tả lợn, tai xanh, lở mồm long móng, tụ huyết trùng |
| Trâu, bò | Tụ huyết trùng, lở mồm long móng, viêm da nổi cục |
| Chó, mèo | Dại, care, parvo, viêm gan |
Lưu ý: Các em nên liên hệ trạm y tế xã/phường và trạm thú y ở địa phương để có thông tin chính xác cho khu vực mình sinh sống.
Câu 3 trang 79
Đề bài: Tại sao trước khi tiêm một số loại kháng sinh người ta phải thử phản ứng dị ứng của cơ thể với kháng sinh bằng cách tiêm một lượng rất nhỏ kháng sinh dưới da cẳng tay và theo dõi phản ứng xảy ra tại vị trí tiêm?
Lời giải:
- Một số loại kháng sinh (như penicillin, cephalosporin) có thể được cơ thể coi là dị nguyên → gây phản ứng dị ứng ở những người mẫn cảm.
- Phản ứng dị ứng có thể diễn ra ở nhiều mức độ: nhẹ (ngứa, phát ban) đến rất nặng như sốc phản vệ (tim không nhận đủ máu và O₂ → có thể gây tử vong trong vài phút).
- Vì vậy, trước khi tiêm cần thử phản ứng dị ứng bằng cách tiêm một lượng rất nhỏ dưới da cẳng tay và theo dõi:
- Nếu có phản ứng dị ứng (đỏ, sưng, ngứa,…) tại chỗ tiêm → cơ thể dị ứng với thuốc → không được tiêm loại kháng sinh đó.
- Nếu không có phản ứng → cơ thể không dị ứng → có thể tiêm an toàn.
→ Việc thử này giúp phòng ngừa các phản ứng dị ứng nguy hiểm, bảo vệ tính mạng người bệnh.

Cô Nguyễn Ngọc Châu
(Người kiểm duyệt, ra đề)
Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Sinh Học THPT
Trình độ: Cử nhân Sư phạm Sinh học, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ AT sinh học, Ngoại ngữ B1
Kinh nghiệm: 9+ năm kinh nghiệm tại Trường THPT Trần Phú
