Soạn bài: Cô Tô (trang 110) Ngữ văn 6 tập 1

I. Tìm hiểu chung

1. Tác giả

Nguyễn Tuân (1910 – 1987), quê ở Hà Nội. Ông là nhà văn có phong cách độc đáo, lối viết tài hoa, cách dùng từ ngữ đặc sắc. Thể loại sở trường của ông là kí và truyện ngắn. Kí của Nguyễn Tuân cho thấy vốn kiến thức sâu rộng về nhiều lĩnh vực đời sống. Một số tác phẩm tiêu biểu: Vang bóng một thời (tập truyện ngắn), Sông Đà (tùy bút)…

2. Tác phẩm

  • Xuất xứ: Cô Tô được viết nhân một chuyến ra thăm đảo của nhà văn; bài kí được in trong tập , xuất bản lần đầu năm 1976.
  • Thể loại: Kí (du kí).
  • Ngôi kể: Ngôi thứ nhất, người kể chuyện xưng “tôi” — chính là tác giả, người trực tiếp chứng kiến và trải nghiệm.

3. Bố cục (3 phần)

  • Phần 1 (từ đầu → “quỷ khốc thần linh”): Cảnh dữ dội của trận bão biển trên đảo Cô Tô.
  • Phần 2 (tiếp → “theo mùa sóng ở đây”): Cảnh Cô Tô tươi đẹp sau cơn bão.
  • Phần 3 (còn lại): Cảnh mặt trời mọc và sinh hoạt của con người quanh giếng nước ngọt.

4. Giá trị nội dung và nghệ thuật

  • Nội dung: Cảnh thiên nhiên và sinh hoạt của con người trên vùng đảo Cô Tô hiện lên trong sáng, tươi đẹp. Bài kí thể hiện tình cảm yêu mến, gắn bó của tác giả với một vùng đất của Tổ quốc.
  • Nghệ thuật: Ngôn ngữ điêu luyện, miêu tả tinh tế, chính xác; hình ảnh so sánh độc đáo, giàu sức gợi; quan sát từ nhiều vị trí, nhiều thời điểm theo trình tự thời gian.

II. Trước khi đọc

Câu 1 (trang 109 SGK)

Kể tên những nơi em đã từng được đến tham quan. Chia sẻ một số điều em quan sát được từ những chuyến đi đó.

  • Cách 1: Em từng được đến vịnh Hạ Long. Em quan sát thấy hàng nghìn hòn đảo đá vôi lớn nhỏ nhô lên giữa làn nước xanh biếc, tạo nên khung cảnh kì vĩ, nên thơ.
  • Cách 2: Em từng đi tham quan Lăng Bác và Văn Miếu – Quốc Tử Giám ở Hà Nội. Em cảm nhận được không khí trang nghiêm, cổ kính và thêm tự hào về lịch sử, văn hóa dân tộc.

Câu 2 (trang 109 SGK)

Tìm quần đảo Cô Tô trên bản đồ Việt Nam và nói về vị trí của quần đảo này.

Cô Tô là một quần đảo nằm trong vịnh Bắc Bộ, thuộc huyện Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh, ở phía đông bắc nước ta. Quần đảo gồm hơn 50 đảo lớn nhỏ, nổi tiếng với cảnh biển đẹp và nhiều đặc sản biển.

Quần đảo cô tô

III. Đọc văn bản (Trong khi đọc)

Hình dung 1 (trang 110 SGK)

Từ “trận địa” khiến em hình dung cơn bão biển như thế nào?

Từ “trận địa” khiến em hình dung cơn bão biển hiện lên dữ dội, nguy hiểm như một chiến trường thực sự, nơi gió và sóng tấn công con người dồn dập.

Theo dõi 2 (trang 110 SGK)

Tác giả quan sát và cảm nhận trận bão bằng những giác quan nào?

Tác giả huy động nhiều giác quan:

  • Xúc giác: “mỗi viên cát bắn vào má vào gáy… buốt như một viên đạn mũi kim”, “gió bắn rát từng chập”.
  • Thị giác: “khuôn cửa kính bị gió vây và dồn, bung hết”, “kính bị thứ gió cấp 11 ép, vỡ tung”.
  • Thính giác: tiếng gió “rít lên rú lên như cái kiểu người ta vẫn thường gọi là quỷ khốc thần linh”.

→ Việc kết hợp nhiều giác quan cho thấy sự tinh tế, nhạy bén và tài hoa của Nguyễn Tuân.

Theo dõi 3 (trang 111 SGK) — Cảnh biển Cô Tô sau bão

Chú ý những từ ngữ miêu tả cảnh biển Cô Tô sau bão.

Bầu trời “trong trẻo, sáng sủa”; cây “thêm xanh mượt”; nước biển “lam biếc đậm đà”; cát “vàng giòn”; cá “càng thêm nặng mẻ cá giã đôi” → tất cả gợi vẻ tươi sáng, tinh khôi, tràn đầy sức sống.

Hình dung 4 (trang 112 SGK) — Cảnh bình minh trên biển

Cảnh bình minh trên biển.

Mặt trời “nhú lên dần dần, rồi lên cho kì hết”, “tròn trĩnh phúc hậu như lòng đỏ một quả trứng thiên nhiên đầy đặn”, đặt trên “mâm bạc” là mặt biển → khung cảnh rực rỡ, tráng lệ, kì vĩ.

Theo dõi 5 (trang 112 SGK) — Nơi đông vui, giàu sức sống

Chú ý nơi đông vui và giàu sức sống nhất trên đảo.

Đó là cái giếng nước ngọt: rất đông người đến tắm, múc, gánh nước; thuyền bè tấp nập đổ nước ngọt chuẩn bị ra khơi → không khí sinh hoạt nhộn nhịp, thanh bình, đậm đà tình người.

IV. Sau khi đọc

Câu 1 (trang 113 SGK)

Qua bài kí Cô Tô, nhà văn đã đưa người đọc đến những nơi nào và gặp gỡ những ai?

  • Những nơi: trận bão biển trên đảo Cô Tô; cảnh đảo Cô Tô tươi đẹp sau bão (nhìn từ nóc đồn); cảnh mặt trời mọc ở đầu mũi đảo Thanh Luân; cảnh giếng nước ngọt và bến đảo lúc sáng sớm.
  • Những con người: anh hùng lao động Châu Hòa Mãn cùng các bạn xã viên; chị Châu Hòa Mãn địu con; những người dân chài đang gánh nước, chuẩn bị ra khơi.

→ Tác giả đưa người đọc đi từ cảnh thiên nhiên dữ dội rồi tươi đẹp, đến cuộc sống lao động bình dị mà ấm áp của con người trên đảo.

Câu 2 (trang 113 SGK)

Tìm những từ ngữ miêu tả sự dữ dội của trận bão. Những từ ngữ nào cho thấy rõ nhất việc tác giả có chủ ý miêu tả trận bão giống như một trận chiến?

  • Từ ngữ miêu tả sự dữ dội: cát bắn “buốt như một viên đạn mũi kim”, “gió bắn rát từng chập”, “gió liên thanh quạt lia lịa”, kính “vỡ tung”, gió “rít lên rú lên”, sóng “thúc lẫn nhau… âm âm rền rền”.
  • Từ ngữ cho thấy tác giả chủ ý tả bão như một trận chiến: đây là các từ thuộc trường nghĩa chiến trận — trận địa, hỏa lực, viên đạn, băng đạn, liên thanh, thả hơi ngạt, trống trận.

Giải thích nhanh: việc dồn dập dùng từ ngữ quân sự khiến cơn bão hiện lên như một kẻ thù hung hãn, có sức mạnh hủy diệt — đó là cái nhìn độc đáo, tài hoa rất riêng của Nguyễn Tuân.

Câu 3 (trang 113 SGK)

Biển sau bão hiện lên như thế nào (qua hình ảnh bầu trời, cây, nước biển, mặt trời,…)?

Sau bão, Cô Tô hiện lên như một bức tranh tươi sáng, rực rỡ:

  • Bầu trời: trong trẻo, sáng sủa.
  • Cây: trên núi đảo thêm xanh mượt.
  • Nước biển: lam biếc, đậm đà hơn mọi khi.
  • Cát: vàng giòn.
  • Mặt trời: tròn trĩnh, phúc hậu như lòng đỏ quả trứng thiên nhiên đầy đặn, đặt trên “mâm bạc” là mặt biển.

→ Cảnh vật giàu màu sắc, tinh khôi, khoáng đạt và tràn đầy sức sống; cảnh sau bão còn đẹp hơn cả trước bão.

Câu 4 (trang 113 SGK)

Theo em, để nhận ra vẻ đẹp của Cô Tô, nhà văn đã quan sát cảnh thiên nhiên và hoạt động của con người trên đảo ở những thời điểm nào và từ những vị trí nào?

  • Thời điểm: theo trình tự thời gian — trong cơn bão (chiều, đêm), sau bão (ngày thứ năm), lúc mặt trời mọc (ngày thứ sáu, từ canh tư), rồi đến buổi sáng sinh hoạt quanh giếng.
  • Vị trí: từ trên cao (nóc đồn Cô Tô, đầu mũi đảo) để bao quát toàn cảnh bốn phương tám hướng; rồi đến gần (cận cảnh giếng nước ngọt) để quan sát đời sống con người.

→ Cách quan sát ấy vừa làm nổi bật vẻ đẹp bao la, hùng vĩ của thiên nhiên, vừa khắc họa cuộc sống đời thường sôi động, bình dị của Cô Tô.

Câu 5 (trang 113 SGK)

Chỉ ra một câu văn thể hiện sự yêu mến đặc biệt của tác giả đối với Cô Tô trong đoạn văn từ Ngày thứ năm trên đảo Cô Tô đến theo mùa sóng ở đây.

Câu văn thể hiện rõ tình yêu của tác giả: “Nhìn rõ cả Tô Bắc, Tô Trung, Tô Nam, mà càng thấy yêu mến hòn đảo như bất cứ người chài nào đã từng đẻ ra và lớn lên theo mùa sóng ở đây.”

→ Tác giả coi Cô Tô gần gũi, thân thương như chính quê hương của mình.

Câu 6 (trang 113 SGK)

Em hình dung khung cảnh Cô Tô sẽ như thế nào nếu thiếu chi tiết miêu tả giếng nước ngọt và hoạt động của con người quanh giếng?

Nếu thiếu chi tiết đó, bức tranh Cô Tô sẽ chỉ còn cảnh thiên nhiên đơn thuần, trở nên trống vắng, tĩnh lặng và thiếu sức sống. Chính hình ảnh giếng nước ngọt cùng cảnh con người tắm giặt, gánh nước, chuẩn bị ra khơi đã mang đến hơi thở ấm áp, nhộn nhịp của sự sống, làm cho đảo Cô Tô hiện lên vừa đẹp vừa có “linh hồn”.

Câu 7 (trang 113 SGK)

Kết thúc bài kí Cô Tô là suy nghĩ của tác giả về hình ảnh chị Châu Hòa Mãn: “Trông chị Châu Hòa Mãn địu con, thấy nó dịu dàng yên tâm như cái hình ảnh biển cả là mẹ hiền mớm cá cho lũ con lành.” Cách kết thúc này cho thấy tình cảm của tác giả với biển và những con người bình dị trên đảo như thế nào?

Hình ảnh so sánh nhiều tầng bậc (biển cả – người mẹ hiền; biển cho tôm cá – mẹ mớm thức ăn; người dân trên đảo – lũ con lành) cho thấy:

  • Tác giả cảm nhận biển cả như một người mẹ bao dung, che chở, nuôi dưỡng con người.
  • Qua đó bộc lộ tình yêu tha thiết với biển đảo quê hương và sự trân trọng, tôn vinh những con người lao động bình dị, hiền hậu đang ngày đêm bám biển.

V. Viết kết nối với đọc

Trong Cô Tô, mặt trời lúc bình minh được ví như lòng đỏ quả trứng thiên nhiên đầy đặn. Viết đoạn văn (khoảng 5 – 7 câu) chỉ ra ý nghĩa của hình ảnh so sánh đó (có thể liên hệ với cách miêu tả mặt trời lúc bình minh của các tác phẩm khác mà em biết).

Cách 1:

Trong bài kí Cô Tô, Nguyễn Tuân đã ví mặt trời lúc bình minh “tròn trĩnh phúc hậu như lòng đỏ một quả trứng thiên nhiên đầy đặn”. Hình ảnh so sánh ấy thật độc đáo và gợi cảm, khiến mặt trời hiện lên vừa rực rỡ, ấm áp, lại vừa gần gũi, thân thương. Cách so sánh với “lòng đỏ quả trứng” còn gợi liên tưởng đến sự sống, sự sinh sôi và niềm hi vọng về một ngày mới tốt lành. Qua đó, ta cảm nhận được con mắt quan sát tinh tế và ngòi bút tài hoa của nhà văn. Hình ảnh ấy đã để lại trong lòng người đọc ấn tượng khó quên về vẻ đẹp tráng lệ của biển trời Cô Tô.

Cách 2:

Hình ảnh mặt trời mọc trên biển Cô Tô được Nguyễn Tuân so sánh với “lòng đỏ một quả trứng thiên nhiên đầy đặn”, đặt trên “mâm bạc” là mặt biển bao la. Phép so sánh này không chỉ làm nổi bật vẻ đẹp tròn đầy, rực rỡ, sang trọng của mặt trời, mà còn cho thấy thiên nhiên Cô Tô như một mâm lễ phẩm trang trọng dâng tặng con người. Em liên tưởng đến câu thơ “Mặt trời xuống biển như hòn lửa” trong Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận — cũng là một cách ví von đầy ấn tượng về mặt trời trên biển. So với hình ảnh “hòn lửa”, cách ví “lòng đỏ quả trứng” của Nguyễn Tuân lại mang vẻ hiền hòa, ấm áp và phúc hậu hơn. Có thể thấy, mỗi nhà văn, nhà thơ đều có cách cảm nhận riêng, nhưng đều chung niềm say mê trước vẻ đẹp kì diệu của thiên nhiên.

Thầy Nguyễn Thái Nhật Luật

Thầy Nguyễn Thái Nhật Luật

(Người kiểm duyệt, ra đề)

Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Ngữ Văn THCS

Trình độ: Cử nhân Sư phạm Ngữ Văn, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ B1

Kinh nghiệm: 8+ năm kinh nghiệm tại THCS Hồng Bàng