Chọn đến phần học sinh cần nhanh chóng thông qua mục lục bằng cách click đến phần đó
I. Tìm hiểu chung
1. Tác giả
Trần Đình Sử (sinh năm 1940), quê ở thành phố Huế, là nhà nghiên cứu, lí luận – phê bình văn học. Một số công trình khoa học tiêu biểu: Thi pháp thơ Tố Hữu (1987), Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam (1999), Thi pháp “Truyện Kiều” (2002), Trên đường biên của lí luận văn học (2014), Dẫn luận thi pháp học văn học (2017)…
2. Tác phẩm
- Thể loại: văn bản nghị luận văn học (lí luận văn học).
- Xuất xứ: trích trong cuốn Đọc văn học văn, NXB Giáo dục, 2001, tr. 5 – 8 (Trần Đình Sử chỉnh lí, 2022). Nhan đề do người biên soạn sách đặt.
- Phương thức biểu đạt chính: nghị luận.
- Bố cục (3 phần):
- Phần 1 (đoạn 1): giới thiệu vấn đề – đọc văn là đi tìm ý nghĩa tiềm ẩn của văn học.
- Phần 2 (đoạn 2 – 5): triển khai vấn đề – các đặc điểm, quy luật và sự kì diệu của việc đọc văn.
- Phần 3 (đoạn 6): kết thúc vấn đề – khẳng định vai trò của việc đọc văn.
II. Trước khi đọc
Câu 1: Sách văn học hấp dẫn đối với nhiều người. Điều gì đã tạo nên sức cuốn hút ấy?
Câu hỏi mở, em có thể chọn một trong các cách sau.
- Cách 1: Sức cuốn hút của sách văn học đến từ thế giới hình tượng phong phú, từ những câu chuyện, nhân vật, cảm xúc khiến người đọc được sống thêm nhiều cuộc đời khác. Mỗi cuốn sách lại mở ra một chân trời mới, giúp ta khám phá sâu sắc hơn về bản thân và cuộc sống.
- Cách 2: Sách văn học hấp dẫn người đọc bởi nó chứa đựng những ý nghĩa nhân sinh sâu sắc, vẻ đẹp của ngôn từ và sự đồng cảm với những cảm xúc, suy tư của con người. Đọc văn, ta như được trò chuyện cùng tác giả và phát hiện ra chính mình.
Câu 2: Có những tác phẩm văn học cần được đọc đi đọc lại nhiều lần. Theo em, thực tế đó nói lên điều gì?
Câu hỏi mở, em có thể chọn một trong các cách sau.
- Cách 1: Thực tế đó cho thấy tác phẩm văn học có nhiều tầng nghĩa: một lần đọc chưa thể khám phá hết. Mỗi lần đọc lại ở một thời điểm khác nhau, với vốn sống và tâm trạng khác nhau, người đọc lại phát hiện thêm những ý nghĩa mới.
- Cách 2: Điều đó chứng tỏ giá trị của tác phẩm văn học là không bao giờ cạn. Tác phẩm hay luôn mời gọi người đọc trở lại, đào sâu, tìm tòi và cùng tham gia vào quá trình sáng tạo ý nghĩa của nó.
III. Trong khi đọc
1. Theo dõi: Cách dẫn dắt vấn đề của tác giả
Tác giả dẫn dắt vấn đề trực tiếp, hấp dẫn: khẳng định đặc điểm quan trọng của văn học là có ý nghĩa tiềm ẩn, từ đó so sánh việc đọc văn với một “trò chơi” ú tim đầy lôi cuốn.
2. Chú ý: Tác giả quan niệm đọc văn là gì?
Theo tác giả, đọc văn là cuộc đi tìm ý nghĩa nhân sinh qua các văn bản thẩm mĩ của văn học bằng chính tâm hồn của người đọc. Các phương pháp chỉ là phụ trợ.
3. Chú ý: Các cách diễn đạt “vì thế”, “mới thực sự là”, “vậy nên”, “thực tế cho thấy” có tác dụng gì?
Đây là các từ nối, cụm từ liên kết thể hiện quan hệ lập luận (nguyên nhân – kết quả, dẫn chứng – kết luận). Chúng giúp các ý trong đoạn văn được kết nối chặt chẽ, mạch lạc, đồng thời thể hiện sự tự tin, dứt khoát trong cách nêu vấn đề của tác giả.
4. Suy luận: Đọc văn là cuộc chơi. Phải chăng đã tham gia chơi thì phải tôn trọng luật của nó?
Đúng vậy. Đã tham gia “trò chơi” đọc văn thì người đọc phải tôn trọng luật chơi, tức là tôn trọng văn bản – từ ngôn từ đến hình tượng. Người đọc có quyền tưởng tượng, lí giải nhưng không được suy diễn tuỳ tiện, làm phương hại đến tính toàn vẹn của tác phẩm.
5. Chú ý: Cách lí giải của tác giả về sự hoá thân của người đọc trong quá trình đọc văn
Tác giả lí giải một cách sinh động, độc đáo: khi đọc sách, văn bản in dần “biến mất” để nhường chỗ cho thế giới hình tượng, người đọc hoá thân vào nhân vật. Người đọc suy nghĩ bằng ngôn từ, hình tượng của nhà văn, còn nhà văn lại phát biểu bằng tâm hồn, trí tuệ của người đọc. Tác phẩm như xoá bỏ ranh giới giữa người đọc và tác giả.
6. Theo dõi: Cách nêu bằng chứng trong văn bản này có gì khác với văn bản “Nhà thơ của quê hương làng cảnh Việt Nam”?
- “Nhà thơ của quê hương làng cảnh Việt Nam” (Xuân Diệu): bằng chứng chủ yếu là các câu thơ, hình ảnh, từ ngữ được trích, dẫn trực tiếp từ ba bài thơ thu của Nguyễn Khuyến.
- “Đọc văn – cuộc chơi tìm ý nghĩa” (Trần Đình Sử): bằng chứng chủ yếu là các lí lẽ mang tính khái quát, các so sánh, ví von (đọc văn như trò chơi ú tim, như chơi nhạc) và dẫn lời danh nhân (Đỗ Phủ, M. Go-rơ-ki). Đây là đặc điểm của văn nghị luận thiên về lí luận.
IV. Sau khi đọc – Trả lời câu hỏi
Câu 1: Luận đề của văn bản “Đọc văn – cuộc chơi tìm ý nghĩa” là gì?
Luận đề: Bản chất và ý nghĩa của việc đọc văn — đọc văn chính là cuộc đi tìm ý nghĩa nhân sinh tiềm ẩn qua văn bản văn học bằng chính tâm hồn của người đọc.
→ Luận đề được thể hiện ngay ở nhan đề và được làm rõ qua các luận điểm trong toàn bộ văn bản.
Câu 2: Em hãy chỉ ra các luận điểm trong văn bản. Các luận điểm đó có tác dụng làm rõ những khía cạnh nào của luận đề?
Hệ thống luận điểm:
- Luận điểm 1 (đoạn 1): Ý nghĩa của văn học là tiềm ẩn và khó nắm bắt.
- Luận điểm 2 (đoạn 2): Mục đích của đọc văn là đi tìm ý nghĩa cuộc đời qua văn bản văn học.
- Luận điểm 3 (đoạn 3): Cuộc đi tìm ý nghĩa không có hồi kết thúc vì tác phẩm văn học có nhiều tầng nghĩa.
- Luận điểm 4 (đoạn 4): Người đọc được tự do nhưng không thể tuỳ tiện, phải tôn trọng văn bản.
- Luận điểm 5 (đoạn 5): Tác phẩm văn học và đọc văn là một hiện tượng diệu kì.
- Luận điểm 6 (đoạn 6): Đọc văn là nền tảng của học văn, giúp người đọc tự phát hiện ra mình và lớn lên.
→ Các luận điểm cùng nhau làm rõ những khía cạnh khác nhau của luận đề: bản chất, đặc điểm, quy luật, sự kì diệu và giá trị của việc đọc văn.
Câu 3: Tác giả cho rằng ý nghĩa của tác phẩm văn học thường không cố định. Câu văn nào trong văn bản giúp em hiểu rõ về vấn đề này?
Câu văn giúp em hiểu rõ vấn đề đó là: “Lí thuyết đọc ngày nay cho thấy ý nghĩa của văn học không ngừng biến động, lớn lên, tuỳ vào cách người ta thiết lập mối liên hệ giữa các loại văn bản với nhau.” (đoạn 3)
→ Câu văn khẳng định ý nghĩa của tác phẩm văn học luôn vận động, phong phú thêm qua các cách đọc, các thời đại khác nhau, chứ không cố định, đơn nhất.
Câu 4: Trong văn bản, các từ ngữ như chơi trò, trò chơi, ú tim, chơi được lặp lại nhiều lần. Với những từ ngữ đó, tác giả lí giải như thế nào về việc đọc văn?
Bằng các từ ngữ ấy, tác giả so sánh việc đọc văn với một trò chơi thú vị:
- Trò chơi ấy giống như ú tim: ý nghĩa của tác phẩm cứ trốn tìm, có lúc tưởng bắt được lại bắt trượt.
- Tham gia trò chơi đọc văn cần có luật chơi: phải tôn trọng văn bản.
- Người đọc không phải “đệm” mà “chơi” tác phẩm trên bản nhạc của nhà văn — tuỳ người chơi mà tác phẩm có sự khác nhau.
→ Cách lí giải này khiến việc đọc văn trở nên sinh động, hấp dẫn, đồng thời gợi mở vai trò chủ động, sáng tạo của người đọc.
Câu 5: Luận điểm “cuộc đi tìm ý nghĩa không có hồi kết thúc” ở đoạn (3) đã được tác giả làm sáng tỏ như thế nào? Em hãy bổ sung một số bằng chứng lấy từ trải nghiệm đọc của chính mình.
Cách tác giả làm sáng tỏ luận điểm:
- Tác phẩm văn học có nhiều tầng nghĩa, đa nghĩa, mơ hồ, không dễ tóm lược vào một câu nhận định.
- Không ai có thể đọc tác phẩm một lần là xong; mỗi lần đọc, mỗi cách đọc chỉ là một chặng trên đường chạy tiếp sức.
- Mọi người đọc đều bình đẳng trong trò chơi tìm ý nghĩa; không ai là người duy nhất đúng.
Bằng chứng từ trải nghiệm đọc của em (câu hỏi mở, em có thể chọn một trong các cách sau):
- Cách 1: Khi đọc Lão Hạc (Nam Cao) lần đầu, em chỉ thấy thương lão Hạc vì cảnh nghèo. Đọc lại lần sau, em hiểu thêm về tình yêu thương con sâu nặng và lòng tự trọng cao quý của lão. Mỗi lần đọc, em lại phát hiện thêm những ý nghĩa mới về số phận và phẩm chất con người.
- Cách 2: Bài thơ Sang thu (Hữu Thỉnh) đọc lần đầu em chỉ thấy đó là bức tranh giao mùa. Đọc lại, em mới cảm nhận được suy tư của tác giả về sự chín chắn, vững vàng của con người khi đã đi qua nửa đời người. Càng đọc lại, càng thấy bài thơ giàu ý nghĩa.
Câu 6: Trong đoạn (4) có câu: “Thưởng thức văn học cũng có quy luật.”. Câu văn đó nhắc nhở em điều gì?
Câu hỏi mở, em có thể chọn một trong các cách sau.
- Cách 1: Câu văn nhắc nhở em rằng khi đọc văn, em không được tuỳ tiện suy diễn theo ý chủ quan của mình. Người đọc phải tôn trọng văn bản — tôn trọng ngôn từ, hình tượng mà nhà văn đã xây dựng nên.
- Cách 2: Em hiểu rằng đọc văn cần có phương pháp đúng đắn. Người đọc được tự do tưởng tượng, lí giải nhưng tất cả phải dựa trên cơ sở văn bản, không phương hại tới tính toàn vẹn của tác phẩm. Đó là kỉ luật cần có của một người đọc văn có hiểu biết.
Câu 7: Đọc đoạn (5) và cho biết vì sao tác giả quan niệm tác phẩm văn học và đọc văn là một hiện tượng diệu kì. Giọng văn trong đoạn (5) có gì khác với những đoạn còn lại?
Vì sao đó là hiện tượng diệu kì:
- Khi chưa đọc, văn bản chỉ là một vật, một khách thể; khi đã đọc, văn bản “biến mất” để nhường chỗ cho thế giới hình tượng trong nội tâm người đọc.
- Người đọc hoá thân vào nhân vật: suy nghĩ bằng ngôn từ của nhà văn, còn nhà văn lại phát biểu bằng tâm hồn người đọc.
- Tác phẩm gần như xoá bỏ ranh giới giữa người đọc và tác giả.
Giọng văn đoạn (5): khác với các đoạn còn lại ở chỗ giọng văn không còn thuần lí luận mà mang nhiều tâm sự, chia sẻ, say sưa và đầy cảm xúc, có lúc dùng câu hỏi tu từ (“Tại sao khi đọc sách ta bỗng toàn tâm toàn ý…?“) khiến người đọc như được trò chuyện cùng tác giả.
Câu 8: Em hãy chỉ ra mối quan hệ giữa đoạn (5) và đoạn (6). Mối quan hệ đó làm rõ ý nghĩa gì của việc đọc văn?
- Mối quan hệ: đoạn (5) và đoạn (6) có quan hệ nhân – quả:
- Đoạn (5) chỉ ra bản chất diệu kì của tác phẩm văn học và việc đọc văn (người đọc hoá thân, sáng tạo cùng nhà văn).
- Đoạn (6) rút ra kết luận, ý nghĩa: vì có bản chất diệu kì như vậy nên đọc văn là nền tảng của học văn, giúp người đọc tự phát hiện ra mình và lớn lên.
- Ý nghĩa của việc đọc văn được làm rõ: đọc văn không chỉ là tiếp nhận tri thức mà còn là quá trình nuôi dưỡng tâm hồn, hoàn thiện nhân cách, giúp con người trưởng thành về cảm xúc và trí tuệ.
V. Viết kết nối với đọc
Vì sao có thể nói “không ai có thể đọc tác phẩm một lần là xong”? Em hãy viết đoạn văn (khoảng 7 – 9 câu) trả lời câu hỏi đó.
Đoạn văn tham khảo 1:
Theo Trần Đình Sử, “không ai có thể đọc tác phẩm một lần là xong” — đây là một nhận định rất sâu sắc về việc đọc văn. Trước hết, tác phẩm văn học có nhiều tầng nghĩa, đa nghĩa, mơ hồ, không dễ gì tóm lược trong một câu nhận định. Mỗi lần đọc, người đọc lại có thể khám phá thêm một lớp ý nghĩa mới mà lần đọc trước chưa nhận ra. Hơn nữa, ý nghĩa của văn học không ngừng biến động theo cách người đọc thiết lập mối liên hệ với cuộc đời, lịch sử, văn hoá. Khi tuổi tác, vốn sống và trải nghiệm thay đổi, cách hiểu của người đọc về tác phẩm cũng đổi thay theo. Bản thân em đã từng đọc Lão Hạc nhiều lần và mỗi lần lại cảm nhận thêm vẻ đẹp mới trong nhân vật lão Hạc. Vì vậy, mỗi lần đọc chỉ là một chặng trên con đường chạy tiếp sức của biết bao độc giả để đến với tác phẩm. Câu nói của Trần Đình Sử nhắc nhở chúng em hãy đọc đi đọc lại những tác phẩm hay để tâm hồn ngày càng phong phú và lớn lên.
Đoạn văn tham khảo 2:
Trần Đình Sử khẳng định “không ai có thể đọc tác phẩm một lần là xong” và đó là một chân lí về việc đọc văn. Lí do thứ nhất là tác phẩm văn học có nhiều tầng nghĩa, không thể nắm bắt hết chỉ qua một lần đọc lướt. Lí do thứ hai là ý nghĩa của tác phẩm không cố định mà luôn lớn lên theo cách người đọc khám phá. Lí do thứ ba là mỗi người đọc, mỗi thời điểm lại đem đến một cách cảm nhận khác nhau, làm tác phẩm thêm giàu có. Em đã từng đọc bài thơ Sang thu của Hữu Thỉnh nhiều lần và mỗi lần lại thấy bài thơ ấy chứa đựng những điều mới mẻ. Vì vậy, mỗi lần đọc chỉ là một chặng dừng chân trong hành trình khám phá ý nghĩa vô tận của tác phẩm. Việc đọc đi đọc lại không chỉ giúp ta hiểu sâu hơn về tác phẩm mà còn giúp ta tự phát hiện ra chính mình và trưởng thành hơn trong tâm hồn.

Thầy Nguyễn Thái Nhật Luật
(Người kiểm duyệt, ra đề)
Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Ngữ Văn THCS
Trình độ: Cử nhân Sư phạm Ngữ Văn, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ B1
Kinh nghiệm: 8+ năm kinh nghiệm tại THCS Hồng Bàng
