Soạn Bài: Một số giọng điệu của tiếng cười trong thơ trào phúng (trang 88) Ngữ Văn 8 tập 1

Mục lục [Ẩn]

Chọn đến phần học sinh cần nhanh chóng thông qua mục lục bằng cách click đến phần đó

I. Tìm hiểu chung

1. Tác giả

Trần Thị Hoa Lê sinh năm 1968 tại Ninh Bình, là giảng viên đại học, nhà nghiên cứu văn học. Các công trình nghiên cứu chính: Giáo trình Văn học trung đại Việt Nam, tập 2 (2015, viết chung), Văn học trào phúng Việt Nam thời trung đại (2017)…

2. Tác phẩm

  • Thể loại: văn bản nghị luận văn học.
  • Xuất xứ: in trên tạp chí Văn học và Tuổi trẻ, số tháng 9/2022.
  • Nội dung chính: văn bản giới thiệu một số giọng điệu cơ bản của tiếng cười trong thơ trào phúng – hài hước, mỉa mai – châm biếm, đả kích – kèm theo các ví dụ minh hoạ cụ thể.

II. Sau khi đọc – Trả lời câu hỏi

Câu 1: Đối tượng miêu tả, thể hiện của văn học trào phúng là gì? Văn bản đã nêu những đối tượng cụ thể nào mà tiếng cười trào phúng thường nhằm tới?

  • Đối tượng miêu tả, thể hiện của văn học trào phúngsự bất toàn (không trọn vẹn, không hoàn hảo) của con người và cuộc sống.
  • Những đối tượng cụ thể mà tiếng cười trào phúng thường nhằm tới:
    • Những kẻ bất đắc chí, vô tích sự, có lối sống coi nhẹ mọi được – mất (như nhà nho tài hoa không gặp thời vận trong thơ Phạm Thái).
    • Bọn quan lại tham lam, keo kiệt, bủn xỉn, bất lực (như “quan tuần mất cướp” trong thơ Nguyễn Khuyến).
    • Bọn nha lệ nhũng nhiễu, lợi dụng thiên tai để bòn rút dân nghèo (như trong thơ Kép Trà).
    • Tình trạng đạo đức gia đình và xã hội xuống cấp: con khinh bố, vợ chửi chồng, người tham lam, keo kiệt, chạy theo đồng tiền (như trong thơ Trần Tế Xương).

Câu 2: Văn bản đề cập đến những giọng điệu nào của tiếng cười trong thơ trào phúng? Hãy chỉ rõ dấu hiệu để nhận biết từng giọng điệu.

Văn bản đề cập đến ba giọng điệu cơ bản:

1. Hài hước

  • Dấu hiệu: cách đùa cợt nhẹ nhàng cùng những yếu tố khác lạ, phóng túng, phá vỡ các khuôn khổ quen thuộc.
  • Ví dụ: bài Tự trào 1 của Phạm Thái – tự cười cợt chính mình để vượt lên cảnh ngộ.

2. Mỉa mai – châm biếm

  • Dấu hiệu: tạo ra những yếu tố vô lí hoặc thiếu lô-gic, đảo lộn trật tự thông thường; hoặc dùng cách “chế nhạo ngầm, đeo mặt nạ nghiêm trang” – khen để mà chê, khẳng định để mà phủ định, đề cao để mà hạ thấp.
  • Mục đích: phê phán, thanh lọc những thói xấu như tự mãn, kiêu căng, đạo đức giả, keo kiệt…
  • Ví dụ: bài Hỏi thăm quan tuần mất cướp của Nguyễn Khuyến, Nha lệ thương dân của Kép Trà.

3. Đả kích

  • Dấu hiệu: giọng điệu phủ nhận gay gắt, quyết liệt đối tượng; có thể mang tính “mắng chửi”, suồng sã, thô mộc.
  • Mục đích: cảnh tỉnh sự tha hoá đạo đức trong xã hội.
  • Ví dụ: bài Đất Vị Hoàng của Trần Tế Xương.

Câu 3: Trong các giọng điệu của tiếng cười ở thơ trào phúng mà văn bản đề cập, em cảm thấy thích thú với giọng điệu nào? Vì sao?

Câu hỏi mở, em có thể chọn một trong các cách sau.

  • Cách 1: Em thích nhất giọng điệu hài hước. Bởi đây là cách đùa cợt nhẹ nhàng, không nặng nề mà vẫn ẩn chứa thông điệp sâu sắc. Đọc những vần thơ hài hước, em vừa thấy thú vị, vừa cảm nhận được sự lạc quan, ung dung của tác giả trước những khó khăn, bất đắc chí trong cuộc đời.
  • Cách 2: Em thích nhất giọng điệu mỉa mai – châm biếm. Vì giọng điệu này rất tinh tế: bề ngoài có vẻ nghiêm túc, thậm chí như đang khen ngợi, nhưng đằng sau lại là sự phê phán sâu cay. Cách “khen để chê, đề cao để hạ thấp” đó buộc người đọc phải suy ngẫm và càng thấm thía hơn ý nghĩa của bài thơ.
  • Cách 3: Em thích nhất giọng điệu đả kích. Vì giọng điệu này thể hiện thái độ dứt khoát, mạnh mẽ của tác giả trước những điều xấu xa trong xã hội. Tiếng cười đả kích như một lời cảnh tỉnh quyết liệt, giúp con người nhận ra cái xấu để loại bỏ.

Câu 4: Trình bày cách hiểu của em về nhận định: “Tiếng cười trong văn chương nói chung, thơ trào phúng nói riêng thật phong phú và đa sắc màu như chính cuộc sống. Tiếng cười ấy thật cần thiết để đẩy lùi cái xấu, hướng mỗi con người đến những giá trị cao đẹp hơn.”

Nhận định trên có thể hiểu như sau:

  • “Phong phú và đa sắc màu như chính cuộc sống”: tiếng cười trong thơ trào phúng có nhiều giọng điệu, cung bậc khác nhau – có khi nhẹ nhàng hài hước, có khi mỉa mai châm biếm, có khi đả kích gay gắt. Sự đa dạng ấy phản ánh chính sự muôn màu, muôn vẻ của đời sống với cả những điều tốt đẹp lẫn những bất toàn, xấu xa.
  • “Cần thiết để đẩy lùi cái xấu”: thơ trào phúng dùng tiếng cười như một vũ khí để phơi bày, phê phán cái xấu, cái tiêu cực; qua đó góp phần thanh lọc xã hội.
  • “Hướng mỗi con người đến những giá trị cao đẹp hơn”: đằng sau tiếng cười không chỉ là sự phê phán mà còn là mong muốn hướng con người tới cái thiện, cái đẹp, cái cao quý. Đó chính là giá trị nhân văn sâu sắc của thơ trào phúng.

→ Nhận định đã khái quát đầy đủ vai trò và ý nghĩa to lớn của tiếng cười trào phúng trong văn chương cũng như trong đời sống con người.

Câu 5: Vận dụng tri thức từ văn bản, em hãy cho biết: Hai bài thơ Lễ xướng danh khoa Đinh DậuLai Tân sử dụng những giọng điệu nào của tiếng cười trào phúng?

a) Bài Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu (Trần Tế Xương):

Sử dụng kết hợp hai giọng điệu chính:

  • Mỉa mai – châm biếm: thể hiện qua hình ảnh sĩ tử “lôi thôi vai đeo lọ” và quan trường “ậm oẹ miệng thét loa” – chế giễu sự nhếch nhác, ô hợp của trường thi.
  • Đả kích: thể hiện qua phép đối hạ nhục quan sứ và mụ đầm (“Cờ kéo rợp trời, quan sứ đến / Váy lê quét đất, mụ đầm ra”) – phê phán sâu cay sự xâm nhập của thực dân vào khoa cử nước nhà.

b) Bài Lai Tân (Hồ Chí Minh):

Sử dụng chủ yếu giọng điệu mỉa mai – châm biếm:

  • Ở hai câu đầu, tác giả gọi thẳng tên những việc xấu của ban trưởng và cảnh trưởng.
  • Ở câu thứ ba, lời tưởng như khen huyện trưởng “chong đèn làm công việc” nhưng thực ra là mỉa mai (chong đèn để hút thuốc phiện).
  • Câu kết “Trời đất Lai Tân vẫn thái bình” là đỉnh cao của giọng điệu mỉa mai: khẳng định để phủ định, dùng hai chữ “thái bình” để phơi bày bản chất thối nát của xã hội Lai Tân.
Thầy Nguyễn Thái Nhật Luật

Thầy Nguyễn Thái Nhật Luật

(Người kiểm duyệt, ra đề)

Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Ngữ Văn THCS

Trình độ: Cử nhân Sư phạm Ngữ Văn, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ B1

Kinh nghiệm: 8+ năm kinh nghiệm tại THCS Hồng Bàng