Chọn đến phần học sinh cần nhanh chóng thông qua mục lục bằng cách click đến phần đó
I. Lý thuyết trọng tâm
1. Đoạn văn song song
- Đặc điểm: đoạn văn không có câu chủ đề; các câu trong đoạn có nội dung khác nhau nhưng cùng hướng tới một chủ đề chung.
- Chức năng: phù hợp với việc trình bày các thông tin khách quan, không hàm chứa sự đánh giá chủ quan của người viết; kết luận thế nào là do người đọc tự suy nghĩ và rút ra.
Ví dụ:
Cần tạo cho trẻ em cơ hội tìm biết được nguồn gốc lai lịch của mình và nhận thức được giá trị của bản thân trong một môi trường mà các em cảm thấy là nơi nương tựa an toàn, thông qua gia đình hoặc những người khác trông nom các em tạo ra. Phải chuẩn bị để các em có thể sống một cuộc sống có trách nhiệm trong một xã hội tự do. Cần khuyến khích trẻ em ngay từ lúc còn nhỏ tham gia vào sinh hoạt văn hoá xã hội. (Trích Tuyên bố của Hội nghị cấp cao thế giới về trẻ em)
→ Đoạn văn có ba câu, mỗi câu nêu một điều cần làm để đáp ứng quyền lợi của trẻ em. Tuy không có câu chủ đề nhưng tất cả các câu đều cùng thể hiện một chủ đề: trách nhiệm đối với trẻ em.
2. Đoạn văn phối hợp
- Đặc điểm: đoạn văn có câu chủ đề ở cả đầu đoạn và cuối đoạn, kết hợp giữa diễn dịch và quy nạp.
- Cấu trúc: tổng hợp – phân tích – tổng hợp.
- Chức năng: phù hợp với việc khẳng định chắc chắn điều mà người viết cho là chân lí.
Ví dụ:
Bị cười, không phải mọi người đều phản ứng giống nhau. Có người tỏ thái độ mặc kệ, bất cần, ai cười, người ấy nghe. Có người, nhân bị thiên hạ cười mà nghiêm túc soi xét bản thân, lặng lẽ sửa mình. Nhưng cũng có những người, bị tiếng cười của đám đông nhằm tới, do thiếu bản lĩnh, nên hoảng hốt, lo âu và tưởng rằng khiếm khuyết của mình là rất nghiêm trọng. Rơi vào bế tắc, họ tìm lối thoát trong hành vi tiêu cực. Như vậy, sự cười nhạo chẳng phải đã vô tình làm hại người ta đó sao? (Minh Đăng, Tiếng cười không muốn nghe)
→ Câu mở đầu (in đậm) nêu chủ đề của đoạn: mọi người sẽ có phản ứng khác nhau khi bị chê cười. Bốn câu tiếp nêu các kiểu phản ứng cụ thể. Câu cuối đoạn (in đậm) khái quát tác hại của sự cười nhạo đối với con người.
II. Luyện tập
Bài 1: Xác định kiểu đoạn văn của những trường hợp sau. Phân tích tác dụng của từng cách thức tổ chức đoạn văn.
a. Đoạn trích từ “Hịch tướng sĩ” — Trần Quốc Tuấn.
- Kiểu đoạn văn: đoạn văn song song.
- Phân tích: Đoạn chỉ có hai câu, mỗi câu đề cập đến một nội dung cụ thể (câu 1: giới thiệu Binh thư yếu lược; câu 2: lời răn dạy về việc học sách hay khinh bỏ sách). Cả hai câu không có câu nào khái quát câu nào, nhưng đều hướng tới một ý chung: các tì tướng hãy học tập Binh thư yếu lược.
- Tác dụng: Kiểu tổ chức này đòi hỏi người đọc tự suy nghĩ, rút ra chủ đề ngầm ẩn thể hiện trong quan hệ về nội dung của các câu. Điều này khiến lời hịch vừa dứt khoát, vừa có sức nặng, buộc người nghe phải tự ý thức về trách nhiệm của mình.
b. Đoạn trích từ “Tinh thần yêu nước của nhân dân ta” — Hồ Chí Minh.
- Kiểu đoạn văn: đoạn văn phối hợp.
- Phân tích: Đoạn có 5 câu.
- Câu đầu (câu chủ đề): “Đồng bào ta ngày nay cũng rất xứng đáng với tổ tiên ta ngày trước.” — khái quát: mọi người Việt Nam đều có lòng yêu nước.
- Ba câu giữa: liệt kê hành động yêu nước của các đối tượng cụ thể (từ cụ già đến nhi đồng, từ chiến sĩ đến công chức, từ phụ nữ đến công nhân, nông dân…).
- Câu cuối (câu chủ đề): “Những cử chỉ cao quý đó, tuy khác nhau nơi việc làm, nhưng đều giống nhau nơi lòng nồng nàn yêu nước.” — khẳng định lại tinh thần yêu nước của mọi tầng lớp.
- Tác dụng: Cách tổ chức tổng – phân – tổng giúp người đọc dễ dàng nhận biết và nắm vững ý chính của đoạn; đồng thời tạo nên sức thuyết phục mạnh mẽ, khẳng định chắc chắn chân lí mà tác giả muốn truyền tải.
Bài 2: Đoạn văn sau được tổ chức theo kiểu nào? Chủ đề của đoạn văn là gì? Dựa vào đâu em nhận biết được điều đó?
Đoạn trích từ “Ca Huế trên sông Hương” — Hà Ánh Minh.
- Kiểu đoạn văn: đoạn văn song song.
- Chủ đề: cách mở đầu đêm ca Huế trên sông Hương.
- Cơ sở nhận biết:
- Đoạn văn có 3 câu, không có câu chủ đề rõ ràng.
- Mỗi câu nói về một khía cạnh khác nhau:
- Câu 1: tên các khúc nhạc mở đầu đêm ca Huế (lưu thuỷ, kim tiền, xuân phong, long hổ).
- Câu 2: các ngón nghề (kĩ xảo) của nhạc công (nhấn, mổ, vỗ, vả, bấm, day, chớp, búng, phi, rãi).
- Câu 3: âm vang, sự lay động của tiếng đàn với người nghe.
- Tuy không có câu khái quát nhưng cả 3 câu cùng hướng tới một chủ đề chung về cảnh mở đầu đêm ca Huế.
Bài 3: Viết một đoạn văn song song và một đoạn văn phối hợp (mỗi đoạn khoảng 7 – 9 câu) theo chủ đề tự chọn.
Câu hỏi mở, em có thể tham khảo các đoạn văn dưới đây.
a) Đoạn văn song song
Đoạn văn tham khảo 1 — Chủ đề: Ý nghĩa của việc đọc sách
Đọc sách giúp ta mở mang vốn hiểu biết về thế giới xung quanh. Đọc sách giúp ta bồi dưỡng tâm hồn, biết yêu thương và sẻ chia với mọi người. Đọc sách giúp ta học được cách viết hay, diễn đạt mạch lạc và làm giàu vốn từ vựng. Đọc sách còn giúp ta rèn luyện tính kiên nhẫn, khả năng tập trung trong cuộc sống. Những trang sách hay đưa ta đến với những vùng đất mới, gặp gỡ những con người mới, sống nhiều cuộc đời khác nhau. Đọc sách cũng là cách để ta nuôi dưỡng ước mơ, hun đúc ý chí vươn lên trong cuộc đời. Sách là người bạn lặng thầm, luôn đồng hành cùng ta trên mỗi bước đường trưởng thành.
Đoạn văn tham khảo 2 — Chủ đề: Ý thức bảo vệ môi trường
Mỗi sáng đi học, em luôn nhớ tắt đèn, tắt quạt khi rời khỏi phòng để tiết kiệm điện. Trên đường đến trường, em mang theo bình nước riêng để hạn chế dùng chai nhựa. Đến lớp, em cùng các bạn phân loại rác thải vào đúng thùng quy định. Cuối tuần, em tham gia cùng các bạn trong xóm dọn vệ sinh khu phố, trồng thêm cây xanh quanh nhà. Em hạn chế dùng túi ni-lông khi đi mua đồ và thường mang theo túi vải. Em cũng nhắc nhở các em nhỏ không vứt rác bừa bãi, biết yêu quý cây xanh và động vật. Những việc làm nhỏ ấy nếu mọi người cùng chung tay sẽ tạo nên một môi trường sống xanh, sạch, đẹp hơn.
b) Đoạn văn phối hợp
Đoạn văn tham khảo 1 — Chủ đề: Tình bạn đẹp
Một tình bạn đẹp là món quà vô giá mà cuộc đời ban tặng cho mỗi người. Trong tình bạn ấy, ta luôn có người sẵn sàng lắng nghe khi ta buồn vui, cùng ta sẻ chia mọi nỗi niềm. Người bạn tốt là người dám nói thẳng những điều ta sai để ta sửa chữa, biết động viên khi ta thất bại và mừng vui khi ta thành công. Tình bạn đẹp giúp ta học được cách yêu thương, tin tưởng và trân trọng người khác. Đó cũng là nơi ta tìm thấy sức mạnh để vượt qua những khó khăn, thử thách trong học tập và cuộc sống. Một người bạn chân thành đôi khi còn hiểu ta hơn cả chính bản thân ta. Bởi vậy, mỗi người cần biết gìn giữ và vun đắp cho những tình bạn đẹp, bởi đó là tài sản tinh thần quý giá nhất mà ta có được trên hành trình trưởng thành.
Đoạn văn tham khảo 2 — Chủ đề: Tôn trọng người khác
Tôn trọng người khác là một trong những phẩm chất đẹp nhất của con người. Tôn trọng được thể hiện qua những điều rất nhỏ trong cuộc sống hằng ngày: biết lắng nghe khi người khác nói, không cắt ngang lời của họ. Tôn trọng còn là biết chấp nhận sự khác biệt về quan điểm, sở thích, hoàn cảnh của mỗi người, không chế giễu hay coi thường ai. Trong gia đình, đó là sự kính trọng cha mẹ, ông bà; trong nhà trường, đó là sự lễ phép với thầy cô, hoà nhã với bạn bè. Khi ta tôn trọng người khác, ta cũng nhận được sự tôn trọng từ họ – đó là quy luật bất biến của các mối quan hệ. Ngược lại, người sống thiếu tôn trọng thường khiến người xung quanh xa lánh, cô lập. Vì thế, học cách tôn trọng người khác chính là học cách làm người, là nền tảng để xây dựng một xã hội văn minh, nhân ái.

Thầy Nguyễn Thái Nhật Luật
(Người kiểm duyệt, ra đề)
Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Ngữ Văn THCS
Trình độ: Cử nhân Sư phạm Ngữ Văn, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ B1
Kinh nghiệm: 8+ năm kinh nghiệm tại THCS Hồng Bàng
