Chọn đến phần học sinh cần nhanh chóng thông qua mục lục bằng cách click đến phần đó
I. Tìm hiểu chung
1. Tác giả
Hồ Chí Minh (1890 – 1969) quê ở tỉnh Nghệ An, là nhà cách mạng, lãnh tụ của Việt Nam, nhà văn, nhà thơ, nhà văn hoá lớn. Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng và cầm bút, Người để lại một di sản văn học rất phong phú, gồm văn chính luận, truyện kí, thơ ca… Về văn chính luận, có một số áng văn nổi tiếng như Tuyên ngôn Độc lập (1945), Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (1946), Không có gì quý hơn độc lập tự do (1966)…
2. Tác phẩm
- Thể loại: nghị luận xã hội.
- Xuất xứ: trích trong Báo cáo Chính trị do Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày tại Đại hội lần thứ II, tháng 2 năm 1951 của Đảng Lao động Việt Nam.
- Vấn đề nghị luận: lòng yêu nước của nhân dân ta.
- Bố cục (3 phần):
- Phần 1 (đoạn 1) – Đặt vấn đề: khẳng định dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước và nêu giá trị to lớn của lòng yêu nước ấy.
- Phần 2 (đoạn 2, 3) – Giải quyết vấn đề: chứng minh tinh thần yêu nước qua các dẫn chứng trong lịch sử và hiện tại.
- Phần 3 (đoạn 4) – Kết thúc vấn đề: giá trị của lòng yêu nước và trách nhiệm của mỗi người dân.
II. Trước khi đọc
Câu 1: Qua những bài học từ môn Lịch sử hoặc qua những truyện lịch sử đã học, đã đọc, hành động yêu nước của nhân vật nào để lại cho em ấn tượng sâu sắc nhất? Vì sao?
Câu hỏi mở, em có thể chọn một trong các cách sau.
- Cách 1: Em ấn tượng nhất với hành động yêu nước của Trần Quốc Toản – chàng thiếu niên trẻ tuổi đã bóp nát quả cam vì không được tham dự bàn việc nước, sau đó về quê chiêu binh mãi mã, giương cao lá cờ thêu sáu chữ vàng “Phá cường địch báo hoàng ân” ra trận đánh giặc.
- Cách 2: Em ấn tượng sâu sắc với vua Quang Trung – Nguyễn Huệ trong chiến công đại phá quân Thanh. Cuộc hành quân thần tốc và lời dụ quân sĩ ở Nghệ An đã thể hiện tấm lòng yêu nước nồng nàn, ý chí quyết tâm bảo vệ độc lập dân tộc của Người.
- Cách 3: Em ấn tượng nhất với Trần Quốc Tuấn – vị danh tướng kiệt xuất ba lần đánh tan quân Nguyên – Mông, người đã viết Hịch tướng sĩ với những lời tâm huyết: “tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa”.
Câu 2: Trong cuộc sống hôm nay, con người có thể thể hiện tinh thần yêu nước bằng những cách nào?
Câu hỏi mở, em có thể chọn một trong các cách sau.
- Cách 1: Trong cuộc sống hôm nay, lòng yêu nước có thể được thể hiện qua những việc làm thiết thực: học tập chăm chỉ, lao động sáng tạo, tích cực rèn luyện đạo đức, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc và bảo vệ môi trường.
- Cách 2: Yêu nước hôm nay là biết tự hào về truyền thống dân tộc, sẵn sàng đóng góp cho cộng đồng; là chấp hành tốt pháp luật, tham gia các hoạt động xã hội ý nghĩa; là biết bảo vệ chủ quyền biển đảo, lan toả hình ảnh đẹp về đất nước Việt Nam.
III. Trong khi đọc
1. Theo dõi: Cách mở đầu và câu văn thể hiện nội dung bao quát của văn bản
Tác giả mở đầu ngắn gọn, trực tiếp, dứt khoát bằng câu khẳng định: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước.” Đây chính là câu văn thể hiện nội dung bao quát, đồng thời là luận đề của toàn bài.
2. Theo dõi: Những bằng chứng được sử dụng nhằm làm sáng tỏ điều gì?
Tác giả nêu các bằng chứng (các trang sử vẻ vang: thời Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung…) nhằm làm sáng tỏ luận điểm: lịch sử ta đã có nhiều cuộc kháng chiến vĩ đại chứng tỏ tinh thần yêu nước của dân ta.
3. Theo dõi: Cách nêu bằng chứng ở đây có gì đáng chú ý?
Tác giả nêu bằng chứng theo mô hình liệt kê “Từ… đến…” rất sinh động, đầy đủ và bao quát theo nhiều phương diện:
- Theo lứa tuổi: từ các cụ già tóc bạc đến các cháu nhi đồng trẻ thơ.
- Theo không gian: từ kiều bào ở nước ngoài đến đồng bào ở vùng tạm bị chiếm; từ miền ngược đến miền xuôi.
- Theo nhiệm vụ: từ chiến sĩ ngoài mặt trận đến công chức ở hậu phương; từ phụ nữ khuyên chồng con tòng quân đến các bà mẹ chiến sĩ, từ công nhân, nông dân đến điền chủ.
→ Cách nêu bằng chứng này thể hiện được sự đầy đủ, toàn diện, rộng khắp về các biểu hiện của lòng yêu nước trong mọi tầng lớp nhân dân.
4. Theo dõi: Cần phải làm gì để phát huy tinh thần yêu nước của nhân dân ta?
Bổn phận của chúng ta là phải ra sức giải thích, tuyên truyền, tổ chức, lãnh đạo, làm cho tinh thần yêu nước của mọi người đều được thực hành vào công việc yêu nước, công việc kháng chiến.
IV. Sau khi đọc – Trả lời câu hỏi
Câu 1: Người viết văn bản nghị luận bao giờ cũng hướng tới đối tượng cần thuyết phục. Theo em, văn bản Tinh thần yêu nước của nhân dân ta hướng tới đối tượng nào?
Văn bản hướng tới toàn thể đồng bào, cán bộ, đảng viên Việt Nam – những người tham dự Đại hội Đảng Lao động Việt Nam lần thứ II (1951) và rộng hơn là toàn dân tộc Việt Nam trong giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp. Mục đích là khơi dậy, phát huy tinh thần yêu nước của toàn dân để phục vụ công cuộc kháng chiến, kiến quốc.
Câu 2: Tinh thần yêu nước của nhân dân ta là một trích đoạn của Báo cáo Chính trị tại Đại hội Đảng Lao động Việt Nam. Điều gì cho thấy phần trích này vẫn thể hiện đầy đủ các đặc điểm của một văn bản hoàn chỉnh?
Phần trích này vẫn thể hiện đầy đủ các đặc điểm của một văn bản hoàn chỉnh vì:
- Có luận đề rõ ràng: Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước.
- Có bố cục 3 phần chặt chẽ: đặt vấn đề – giải quyết vấn đề – kết thúc vấn đề.
- Có hệ thống luận điểm, lí lẽ, bằng chứng đầy đủ, lập luận mạch lạc.
- Mở đầu, kết thúc trọn vẹn, có liên kết chặt chẽ giữa các phần, thể hiện rõ tư tưởng và lời kêu gọi của tác giả.
Câu 3: Bài nghị luận có mấy luận điểm? Nêu từng luận điểm và chỉ ra mối quan hệ giữa các luận điểm, từ đó rút ra nội dung bao quát của văn bản.
Bài nghị luận có 3 luận điểm chính:
- Luận điểm 1: Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước – đó là một truyền thống quý báu.
- Luận điểm 2: Lòng yêu nước được thể hiện qua các trang sử vẻ vang trong quá khứ và qua những hành động cụ thể của đồng bào ta trong cuộc kháng chiến hiện tại.
- Luận điểm 3: Bổn phận của chúng ta là phải làm cho tinh thần yêu nước được phát huy, biến thành hành động thiết thực.
Mối quan hệ giữa các luận điểm: Ba luận điểm có mối liên hệ chặt chẽ, tầng bậc: luận điểm 1 nêu vấn đề, luận điểm 2 chứng minh vấn đề bằng dẫn chứng lịch sử và hiện tại, luận điểm 3 rút ra bài học hành động. Các luận điểm bổ sung, làm rõ cho nhau, cùng hướng đến luận đề chung.
Nội dung bao quát: Văn bản khẳng định lòng yêu nước là truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam; nhân dân ta cần phát huy tinh thần ấy thành những hành động thiết thực để bảo vệ và xây dựng đất nước.
Câu 4: Căn cứ vào những bằng chứng khách quan nào mà tác giả khẳng định: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước”? Vì sao lòng yêu nước nồng nàn của nhân dân ta được tác giả xem là “một truyền thống quý báu”?
Những bằng chứng khách quan:
- Trong quá khứ: các trang sử vẻ vang thời Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung… với những cuộc kháng chiến vĩ đại chống ngoại xâm.
- Trong hiện tại (kháng chiến chống Pháp): hành động yêu nước của mọi tầng lớp nhân dân – từ các cụ già đến cháu nhi đồng, từ kiều bào đến đồng bào trong nước, từ chiến sĩ ngoài mặt trận đến công chức hậu phương, từ phụ nữ, bà mẹ chiến sĩ đến công nhân, nông dân, điền chủ…
Lòng yêu nước được xem là “truyền thống quý báu” vì:
- Đó là tinh thần được hun đúc, gìn giữ qua hàng nghìn năm lịch sử dân tộc, được truyền từ đời này sang đời khác.
- Mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, tinh thần ấy lại sôi nổi, kết thành làn sóng mạnh mẽ, nhấn chìm lũ bán nước và cướp nước.
- Là sức mạnh nội tại to lớn, làm nên những chiến thắng vẻ vang của dân tộc.
Câu 5: Văn nghị luận của Hồ Chí Minh bao giờ cũng hướng người đọc đi từ nhận thức tới hành động. Qua văn bản này, tác giả muốn người đọc nhận thức được điều gì và có hành động như thế nào? Những nhận thức và hành động đó có ý nghĩa như thế nào trong đời sống cộng đồng?
Nhận thức: Người đọc cần nhận thức được lòng yêu nước là truyền thống quý báu của dân tộc; mỗi người Việt Nam đều mang trong mình tinh thần ấy, dù có khi được thể hiện rõ ràng, có khi còn cất giấu kín đáo.
Hành động: Mỗi người cần biến lòng yêu nước thành hành động cụ thể, thiết thực; phải ra sức giải thích, tuyên truyền, tổ chức, lãnh đạo để tinh thần yêu nước của mọi người được phát huy vào công việc kháng chiến, xây dựng đất nước.
Ý nghĩa trong đời sống cộng đồng:
- Tạo nên sự đoàn kết, đồng lòng của toàn dân tộc trước mọi khó khăn, thử thách.
- Khơi dậy sức mạnh tinh thần to lớn để bảo vệ và phát triển đất nước.
- Hình thành lối sống tích cực, trách nhiệm ở mỗi công dân với cộng đồng, với Tổ quốc.
Câu 6: Theo em, những yếu tố nào đã góp phần làm nên sức thuyết phục của bài nghị luận này? Vấn đề được bàn luận trong văn bản còn có ý nghĩa trong thời đại ngày nay nữa không? Vì sao?
Những yếu tố làm nên sức thuyết phục:
- Luận đề rõ ràng, dứt khoát ngay từ câu mở đầu.
- Bố cục chặt chẽ, lập luận mạch lạc, tầng bậc rõ ràng (luận đề → luận điểm → lí lẽ → bằng chứng).
- Bằng chứng tiêu biểu, phong phú, toàn diện: từ quá khứ đến hiện tại, từ già đến trẻ, từ trong nước đến ngoài nước.
- Sử dụng hình ảnh so sánh sinh động (làn sóng yêu nước, các thứ của quý).
- Mô hình liệt kê “Từ… đến…” tạo nhịp văn dồn dập, có sức lan toả mạnh.
- Giọng văn tha thiết, giàu cảm xúc, vừa khẳng định vừa kêu gọi.
Vấn đề bàn luận vẫn còn ý nghĩa trong thời đại ngày nay, vì:
- Lòng yêu nước luôn là giá trị bền vững và là nền tảng tinh thần của mỗi dân tộc.
- Trong thời bình, tinh thần yêu nước cần được phát huy bằng những hình thức mới: học tập, lao động sáng tạo, bảo vệ chủ quyền, giữ gìn bản sắc văn hoá, bảo vệ môi trường…
- Vấn đề vẫn mang tính thời sự, thiết thực với mọi thế hệ người Việt Nam.
V. Viết kết nối với đọc
Viết đoạn văn (khoảng 7 – 9 câu) trả lời cho câu hỏi: Phải chăng lòng yêu nước của mỗi người chỉ cần thể hiện khi Tổ quốc bị xâm lăng?
Đoạn văn tham khảo 1:
Có ý kiến cho rằng lòng yêu nước chỉ cần thể hiện khi Tổ quốc bị xâm lăng, nhưng em không đồng tình với quan điểm đó. Lòng yêu nước là tình cảm thiêng liêng, sâu nặng của mỗi người dành cho quê hương, đất nước, và nó cần được thể hiện trong mọi hoàn cảnh, cả thời chiến lẫn thời bình. Trong thời chiến, yêu nước là cầm súng đánh giặc, hi sinh xương máu để bảo vệ Tổ quốc. Nhưng trong thời bình, yêu nước lại được thể hiện qua những việc làm thiết thực hằng ngày: học sinh chăm chỉ học tập, người lao động hăng say sản xuất, các nhà khoa học miệt mài nghiên cứu để góp phần xây dựng đất nước giàu mạnh. Yêu nước còn là biết gìn giữ bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ môi trường, chấp hành tốt pháp luật. Nếu chỉ chờ đến khi có chiến tranh mới yêu nước thì làm sao đất nước phát triển được? Vì thế, lòng yêu nước không bao giờ giới hạn ở một thời điểm nào, mà phải hiện diện trong từng suy nghĩ, hành động của mỗi người con đất Việt.
Đoạn văn tham khảo 2:
Lòng yêu nước của mỗi người không chỉ cần thể hiện khi Tổ quốc bị xâm lăng mà phải được thể hiện trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống. Khi đất nước có giặc, yêu nước là sẵn sàng chiến đấu, hi sinh để bảo vệ độc lập dân tộc – như cha ông ta từng làm trong các cuộc kháng chiến chống Mông – Nguyên, chống Thanh, chống Pháp, chống Mỹ. Còn trong thời bình, yêu nước lại có những hình thức biểu hiện đa dạng và phong phú hơn. Đó là tinh thần lao động hăng say, là sự cống hiến thầm lặng của những người lính nơi đảo xa, là các vận động viên mang vinh quang về cho Tổ quốc trên đấu trường quốc tế. Với học sinh chúng em, yêu nước được thể hiện qua việc học tập thật giỏi, rèn luyện đạo đức, biết ơn cha mẹ thầy cô, sống có trách nhiệm với cộng đồng. Yêu nước còn là biết tự hào về truyền thống dân tộc, gìn giữ tiếng Việt và lan toả những giá trị tốt đẹp của văn hoá Việt Nam. Có thể nói, lòng yêu nước là ngọn lửa cháy mãi trong tim mỗi người Việt – không bao giờ tắt, dù ở bất cứ hoàn cảnh nào.

Thầy Nguyễn Thái Nhật Luật
(Người kiểm duyệt, ra đề)
Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Ngữ Văn THCS
Trình độ: Cử nhân Sư phạm Ngữ Văn, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ B1
Kinh nghiệm: 8+ năm kinh nghiệm tại THCS Hồng Bàng
