Soạn bài: Củng cố, mở rộng Bài 8 (trang 71) Ngữ văn 6 tập 2

Mục lục [Ẩn]

Chọn đến phần học sinh cần nhanh chóng thông qua mục lục bằng cách click đến phần đó

I. Kiến thức trọng tâm

1. Văn bản nghị luận và các yếu tố cơ bản

Văn bản nghị luận là loại văn bản chủ yếu dùng để thuyết phục người đọc, người nghe về một vấn đề. Các yếu tố cơ bản gồm:

  • Ý kiến: quan điểm mà người viết muốn khẳng định.
  • Lí lẽ: những lời diễn giải có lí để làm rõ ý kiến.
  • Bằng chứng: những ví dụ cụ thể, lấy từ thực tế đời sống để chứng minh cho lí lẽ.

2. Phân biệt một số loại văn bản

  • Văn bản văn học: chủ yếu dùng để kể chuyện, bộc lộ cảm xúc, miêu tả (ví dụ: Bài tập làm văn).
  • Văn bản nghị luận: chủ yếu dùng để bàn luận, thuyết phục về một vấn đề (ví dụ: Xem người ta kìa!, Hai loại khác biệt).
  • Văn bản thông tin: chủ yếu dùng để cung cấp, giới thiệu thông tin, tri thức về sự vật, hiện tượng.

II. Hướng dẫn trả lời câu hỏi

Câu 1 (trang 71 SGK)

Qua việc học các văn bản trong bài, hãy trả lời các câu hỏi sau: a. Vì sao việc khẳng định cái riêng của mỗi người luôn là điều cần thiết? b. Vì sao trong cuộc sống, giữa mọi người cần có sự thấu hiểu, chia sẻ?

a. Vì sao khẳng định cái riêng luôn là điều cần thiết?
  • Cách 1: Vì cái riêng làm nên giá trị độc đáo của mỗi cá nhân. Chính sự khác biệt, độc đáo ở mỗi người khiến tập thể, cộng đồng trở nên phong phú; nhờ đó mỗi người mới đóng góp được cho cộng đồng điều gì đó của riêng mình.
  • Cách 2: Vì mỗi người là một cá thể không lặp lại; khẳng định cái riêng giúp ta sống thật với chính mình, tự tin, không mặc cảm khi bị so sánh, và phát huy được thế mạnh của bản thân.
b. Vì sao cần có sự thấu hiểu, chia sẻ?
  • Cách 1: Vì bên cạnh những khác biệt, giữa mọi người vẫn có nhiều nét chung, nhiều điểm gần gũi. Sự thấu hiểu, chia sẻ giúp con người xích lại gần nhau hơn, biết cảm thông, hợp tác và cùng nhau hoàn thiện.
  • Cách 2: Vì không ai có thể sống tách biệt một mình. Thấu hiểu và chia sẻ giúp xóa bỏ hiểu lầm, gắn kết tình cảm, khiến cuộc sống trở nên ấm áp, tốt đẹp và mỗi người cũng trưởng thành hơn.

Câu 2 (trang 71 SGK)

Sau đây là hai đoạn văn có mục đích giao tiếp khác nhau. Kẻ bảng vào vở theo mẫu và điền các thông tin thể hiện sự khác nhau giữa hai đoạn văn.

a. Thế rồi ông ấy ngồi xuống cái bàn nhỏ cùng với chúng tôi… rằng chúng tôi không cần gì ông cả.

b. Điều tôi học được từ bài tập này là: sự khác biệt chia làm hai loại… đa số chúng tôi đều chọn loại vô nghĩa.

Những vấn đề cần xác định Đoạn (a) Đoạn (b)
Nội dung của đoạn văn Kể việc ông Blê-đúc định giúp làm bài, nhưng bố Ni-cô-la ngắt lời và từ chối sự giúp đỡ của ông. Trình bày quan điểm của tác giả về sự phân chia hai loại khác biệt (vô nghĩa và có ý nghĩa) sau khi chứng kiến thực tế.
Mục đích của đoạn văn Kể chuyện Thuyết phục (bàn luận)
Kiểu văn bản chứa đoạn văn Văn bản văn học (truyện Bài tập làm văn) Văn bản nghị luận (Hai loại khác biệt)

Câu 3 (trang 72 SGK)

Văn bản nghị luận thường bàn về những hiện tượng (vấn đề) gì của cuộc sống? Hãy nêu hai hiện tượng (vấn đề) đời sống được bàn trong hai văn bản nghị luận mà em biết.

  • Văn bản nghị luận thường bàn về: những hiện tượng, vấn đề trong đời sống được nhiều người quan tâm, chẳng hạn các vấn đề về đạo đức, lối sống, cách ứng xử, các thói quen tốt – xấu… nhằm bày tỏ quan điểm và thuyết phục người đọc.
  • Hai vấn đề được bàn trong hai văn bản nghị luận đã học:
    • Xem người ta kìa! (Lạc Thanh): bàn về việc cần biết hòa đồng với mọi người nhưng cũng phải tôn trọng, giữ gìn cái riêng, sự khác biệt của mỗi người.
    • Hai loại khác biệt (Giong-mi Mun): bàn về sự khác biệt — cần tạo ra sự khác biệt có ý nghĩa chứ không phải khác biệt vô nghĩa, hời hợt bên ngoài.

Câu 4 (trang 72 SGK)

Trong các đề tài sau, theo em, những đề tài nào phù hợp với yêu cầu viết bài văn nghị luận? Vì sao? a. Trải nghiệm một chuyến đi biển cùng bố mẹ. b. Cây bàng trong sân trường kể chuyện về mình. c. Bàn về ý nghĩa của việc trồng cây. d. Kỉ niệm về người bạn thân nhất. e. Vai trò của tình bạn.

  • Những đề tài phù hợp với văn nghị luận là: c và e.
    • c. Bàn về ý nghĩa của việc trồng câye. Vai trò của tình bạn đều là những vấn đề của đời sống cần bàn luận, đòi hỏi người viết nêu ý kiến, đưa ra lí lẽ và bằng chứng để thuyết phục — đúng đặc trưng của văn nghị luận.
  • Các đề tài còn lại không phù hợp với văn nghị luận:
    • a. Trải nghiệm một chuyến đi biển cùng bố mẹd. Kỉ niệm về người bạn thân nhất là đề tài tự sự (kể lại trải nghiệm, kỉ niệm).
    • b. Cây bàng trong sân trường kể chuyện về mình là đề tài tự sự kết hợp miêu tả (nhân hóa để kể, tả), thuộc văn bản văn học.
Thầy Nguyễn Thái Nhật Luật

Thầy Nguyễn Thái Nhật Luật

(Người kiểm duyệt, ra đề)

Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Ngữ Văn THCS

Trình độ: Cử nhân Sư phạm Ngữ Văn, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ B1

Kinh nghiệm: 8+ năm kinh nghiệm tại THCS Hồng Bàng