Chọn đến phần học sinh cần nhanh chóng thông qua mục lục bằng cách click đến phần đó
Câu hỏi mở đầu
Câu hỏi mở đầu (trang 30)
Đề bài: Giữa các thể của nước có sự chuyển đổi qua lại lẫn nhau ở những điều kiện nhất định. Sự chuyển thể của nước tạo ra những hiện tượng tự nhiên nào trên Trái Đất?
Lời giải:
Khi nước chuyển từ thể này sang thể khác, nó tạo ra nhiều hiện tượng tự nhiên quen thuộc trên Trái Đất, như: mây, mưa, sương mù, sương, tuyết rơi, băng đóng,…
Ví dụ: nước ở biển, sông, hồ bay hơi lên cao, gặp lạnh ngưng tụ thành mây rồi rơi xuống thành mưa; khi trời rất lạnh, nước có thể đóng thành băng hoặc tuyết.
I. Các thể của chất: thể rắn, thể lỏng và thể khí
Câu hỏi mục I (trang 30)
Đề bài:
- Hãy nêu một số ví dụ về chất ở thể rắn, lỏng và khí mà em biết.
- Em có thể dùng chất ở thể lỏng để tạo nên vật có hình dạng cố định không?
Lời giải:
Câu 1. Một số ví dụ:
- Chất ở thể rắn: sắt, đá, gỗ, muối ăn, đường,…
- Chất ở thể lỏng: nước, dầu ăn, xăng, sữa,…
- Chất ở thể khí: không khí, hơi nước, khí oxygen,…
Câu 2. Không thể. Vì chất ở thể lỏng có hình dạng theo phần vật chứa nó, tức là không có hình dạng cố định. Đổ chất lỏng vào vật chứa nào thì nó mang hình dạng của vật chứa đó, nên không thể dùng chất lỏng để tạo nên một vật có hình dạng cố định.
Hoạt động mục I (trang 30)
Đề bài: Tìm hiểu một số tính chất của chất ở thể rắn, lỏng, khí.
Chuẩn bị: $1$ miếng gỗ nhỏ, $2$ xi-lanh, nước có pha màu.
Tiến hành: Ấn hai đầu miếng gỗ (Hình 10.1); hút nước màu đầy xi-lanh, bịt đầu rồi ấn pít-tông (Hình 10.2); hút không khí đầy xi-lanh, bịt đầu rồi ấn pít-tông (Hình 10.3). Hãy rút ra nhận xét về hình dạng và khả năng chịu nén của chất ở thể rắn, thể lỏng và thể khí.

Lời giải:
Từ thí nghiệm, ta rút ra nhận xét cho từng thể:
- Thể rắn (miếng gỗ): có hình dạng cố định; khi ấn hai đầu, miếng gỗ không bị ép vào, tức là rất khó nén.
- Thể lỏng (nước màu trong xi-lanh): có hình dạng của phần vật chứa (xi-lanh); khi ấn, pít-tông gần như không di chuyển, tức là khó nén.
- Thể khí (không khí trong xi-lanh): có hình dạng của vật chứa; khi ấn, pít-tông di chuyển vào dễ dàng, tức là dễ bị nén.
Câu hỏi mục I (trang 31)
Đề bài:
- Khi mở lọ nước hoa, một lát sau có thể ngửi thấy mùi nước hoa. Điều này thể hiện tính chất gì của chất ở thể khí?
- Nước từ nhà máy nước được dẫn đến các hộ dân qua đường ống. Điều này thể hiện tính chất gì của chất ở thể lỏng?
- Ta có thể đi được trên mặt nước đóng băng đủ dày. Điều này thể hiện tính chất gì của chất ở thể rắn?
Lời giải:
- Khi mở lọ nước hoa, mùi nước hoa lan ra khắp phòng. Điều này thể hiện chất ở thể khí dễ dàng lan tỏa trong không gian theo mọi hướng.
- Nước được dẫn theo đường ống đến từng nhà. Điều này thể hiện chất ở thể lỏng có thể chảy được (chảy tràn) và có hình dạng theo phần vật chứa nó (ở đây là đường ống).
- Ta đi được trên mặt nước đóng băng đủ dày. Điều này thể hiện chất ở thể rắn có hình dạng cố định, cứng chắc (không chảy, nâng đỡ được vật).
II. Sự chuyển thể của chất
Câu hỏi mục II (trang 32)
Đề bài:
- Nhiệt độ nóng chảy của sắt, thiếc và thủy ngân lần lượt là $1\ 538\ ^{\circ}\text{C}$, $232\ ^{\circ}\text{C}$, $-39\ ^{\circ}\text{C}$. Hãy dự đoán chất nào là chất lỏng ở nhiệt độ thường.
- Khi để cục nước đá ở nhiệt độ phòng, em thấy có hiện tượng gì? Tại sao?
- Quan sát Hình 10.4 và trình bày sự chuyển thể đã diễn ra ở thác nước khi chuyển sang mùa hè (hình a) và khi chuyển sang mùa đông (hình b).

Lời giải:
Câu 1. Nhiệt độ thường (nhiệt độ trong phòng) khoảng $25\ ^{\circ}\text{C}$ đến $30\ ^{\circ}\text{C}$. Một chất sẽ ở thể lỏng tại nhiệt độ thường nếu nhiệt độ nóng chảy của nó thấp hơn nhiệt độ thường.
- Sắt và thiếc có nhiệt độ nóng chảy rất cao ($1\ 538\ ^{\circ}\text{C}$ và $232\ ^{\circ}\text{C}$), cao hơn nhiệt độ thường, nên ở nhiệt độ thường chúng ở thể rắn.
- Thủy ngân có nhiệt độ nóng chảy $-39\ ^{\circ}\text{C}$, thấp hơn nhiệt độ thường, nên ở nhiệt độ thường nó đã nóng chảy, tức là ở thể lỏng.
Vậy thủy ngân là chất lỏng ở nhiệt độ thường.
Câu 2. Khi để cục nước đá ở nhiệt độ phòng, ta thấy nước đá tan dần thành nước (chuyển từ thể rắn sang thể lỏng).
Tại sao? Vì nhiệt độ phòng cao hơn nhiệt độ nóng chảy của nước đá ($0\ ^{\circ}\text{C}$), nên nước đá nóng chảy thành nước.
Câu 3. Quan sát Hình 10.4:
- Khi chuyển sang mùa hè (hình a): trời ấm lên, băng tuyết tan ra, nước chuyển từ thể rắn sang thể lỏng. Đây là sự nóng chảy.
- Khi chuyển sang mùa đông (hình b): trời lạnh, nước chuyển từ thể lỏng sang thể rắn (đóng băng). Đây là sự đông đặc.
Hoạt động mục II (trang 33)
Đề bài: Theo dõi nhiệt độ của nước đá trong quá trình nóng chảy.
Chuẩn bị: nước đá viên, nước nóng, $1$ ống nghiệm, $1$ cốc thủy tinh, nhiệt kế (dải đo từ dưới $-5\ ^{\circ}\text{C}$ đến trên $50\ ^{\circ}\text{C}$).
Tiến hành: Cho nước đá viên đập nhỏ vào ống nghiệm, cắm nhiệt kế vào giữa khối nước đá, đặt ống nghiệm vào cốc thủy tinh chứa nước nóng. Em hãy ghi lại nhiệt độ và thể của nước, rồi nhận xét.
Lời giải:
Câu 1. Ghi lại kết quả theo bảng (số liệu dưới đây là ví dụ minh họa, em hãy điền số đo thật khi làm thí nghiệm):
| Thời gian | Nhiệt độ | Thể của nước |
|---|---|---|
| Ban đầu | $-4\ ^{\circ}\text{C}$ | Rắn |
| $1$ phút | $0\ ^{\circ}\text{C}$ | Rắn |
| $2$ phút | $0\ ^{\circ}\text{C}$ | Rắn và lỏng |
| … | $0\ ^{\circ}\text{C}$ | Rắn và lỏng |
| $10$ phút | $10\ ^{\circ}\text{C}$ | Lỏng |
Câu 2. Nhận xét: Trong suốt quá trình nước đá đang nóng chảy (lúc còn cả phần rắn lẫn phần lỏng), nhiệt độ của nó không thay đổi, luôn giữ ở $0\ ^{\circ}\text{C}$. Chỉ sau khi nước đá đã tan hết thành nước thì nhiệt độ mới tiếp tục tăng lên.

Câu hỏi mục II (trang 34)
Đề bài:
- Nêu điểm giống và khác nhau giữa sự bay hơi và sự ngưng tụ.
- Nêu điểm giống và khác nhau giữa sự bay hơi và sự sôi.
Lời giải:
Câu 1. Sự bay hơi và sự ngưng tụ:
- Giống nhau: đều là sự chuyển thể của chất và đều xảy ra ở mọi nhiệt độ.
- Khác nhau:
- Sự bay hơi: chất chuyển từ thể lỏng sang thể hơi.
- Sự ngưng tụ: chất chuyển từ thể hơi sang thể lỏng (ngược lại với bay hơi).
Câu 2. Sự bay hơi và sự sôi:
- Giống nhau: đều là sự hóa hơi, tức là chất chuyển từ thể lỏng sang thể hơi.
- Khác nhau:
- Sự bay hơi: chỉ xảy ra trên bề mặt chất lỏng và xảy ra ở mọi nhiệt độ.
- Sự sôi: xảy ra cả trên bề mặt lẫn trong lòng khối chất lỏng và chỉ xảy ra ở nhiệt độ sôi (một nhiệt độ xác định).
Hoạt động mục II (trang 35)
Đề bài: Theo dõi nhiệt độ của nước trong quá trình nước sôi.
Chuẩn bị: nước cất, cốc thủy tinh chịu nhiệt, nhiệt kế (dải đo lên đến $100\ ^{\circ}\text{C}$), đèn cồn.
Tiến hành: Đun nóng nước cất trong cốc chịu nhiệt. Khi nước sôi, ta thấy các bọt khí nổi lên rất nhanh và vỡ tung trên bề mặt nước. Em hãy ghi lại nhiệt độ ($1$ phút ghi $1$ lần, khoảng $4$–$5$ lần) rồi nhận xét.
Lời giải:
Câu 1. Ghi lại nhiệt độ trên nhiệt kế (số liệu dưới đây là ví dụ minh họa, em hãy điền số đo thật khi làm thí nghiệm):
| Thời gian | Nhiệt độ của nước |
|---|---|
| $1$ phút | $40\ ^{\circ}\text{C}$ |
| $2$ phút | $60\ ^{\circ}\text{C}$ |
| $3$ phút | $80\ ^{\circ}\text{C}$ |
| $4$ phút | $100\ ^{\circ}\text{C}$ (nước sôi) |
| $5$ phút | $100\ ^{\circ}\text{C}$ (vẫn sôi) |
Câu 2. Nhận xét: Trong quá trình nước đang sôi, nhiệt độ của nước không thay đổi, luôn giữ ở $100\ ^{\circ}\text{C}$ (dù vẫn tiếp tục đun).

Em có thể (trang 35)
Đề bài: Giải thích vì sao chất làm bình chứa phải ở thể rắn. Trình bày được sự nóng chảy, hóa hơi, ngưng tụ, đông đặc trong vòng tuần hoàn của nước trên Trái Đất.
Lời giải:
1. Vì sao chất làm bình chứa phải ở thể rắn?
Vì chỉ chất ở thể rắn mới có hình dạng cố định, không chảy và không tự lan ra. Nhờ vậy, bình chứa giữ được hình dạng để đựng được chất lỏng hoặc chất khí bên trong. Nếu làm bình bằng chất lỏng hay chất khí thì chúng không giữ được hình dạng nên không thể dùng để chứa các chất khác.
2. Sự chuyển thể trong vòng tuần hoàn của nước trên Trái Đất (theo Hình 10.6):
- Nước ở biển, sông, hồ hóa hơi (bay hơi) thành hơi nước bay lên cao.
- Lên cao gặp lạnh, hơi nước ngưng tụ thành những giọt nước nhỏ li ti tạo thành mây, rồi rơi xuống thành mưa.
- Ở những nơi rất lạnh, nước đông đặc thành tuyết, băng.
- Khi trời ấm lên, băng tuyết nóng chảy thành nước, chảy về sông, biển.
Cứ như vậy, nước chuyển thể qua lại liên tục, tạo thành vòng tuần hoàn của nước trong tự nhiên.

Cô Trần Thị Thanh Thảo
(Người kiểm duyệt, ra đề)
Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Khoa Học Tự Nhiên THCS
Trình độ: Cử nhân Sư phạm KHTN, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ B1
Kinh nghiệm: 6+ năm kinh nghiệm tại Trường THCS Nguyễn Siêu
