Viết bài văn nghị luận về một vấn đề liên quan đến tuổi trẻ (Cách ứng xử trong các mối quan hệ gia đình, xã hội)

I. Kiểu bài và yêu cầu cần đạt

Ở Bài 3, các em đã viết nghị luận về khát vọng, hoài bão, ý chí của tuổi trẻ. Bài 7 vẫn là nghị luận về một vấn đề liên quan đến tuổi trẻ, nhưng phạm vi chuyển sang cách ứng xử trong các mối quan hệ gia đình và xã hội – tức là từ chuyện “muốn gì” sang chuyện “sống với người khác thế nào”.

Bài viết này vận dụng trực tiếp các kĩ năng lập luận đã học ở Bài 3, trong đó thao tác bác bỏ giữ vai trò đặc biệt quan trọng.

Bốn yêu cầu của kiểu bài:

  1. Giới thiệu được vấn đề có ý nghĩa, liên quan đến cách ứng xử của tuổi trẻ trong các mối quan hệ gia đình và xã hội.
  2. Thể hiện được quan điểm cá nhân, đưa ra lí lẽ và bằng chứng thuyết phục về cách ứng xử trong mối quan hệ được bàn luận.
  3. Nêu được ý kiến trái chiều và phản bác bằng lập luận chặt chẽ, sắc bén.
  4. Khẳng định được tầm quan trọng của cách ứng xử đối với việc phát triển, hoàn thiện con người cá nhân và xây dựng cộng đồng.

Yêu cầu 3 là chỗ phân biệt bài này với một bài nghị luận xã hội thông thường. Không có phần nêu và phản bác ý kiến trái chiều thì bài viết chưa đạt, dù các phần khác có tốt đến đâu.

II. Trả lời câu hỏi về bài viết tham khảo

(Bài viết tham khảo trong SGK: “Yêu là biết sống đẹp hơn” – bài làm của học sinh, có chỉnh sửa.)

Câu 1. Vấn đề được bàn luận trong bài viết là gì?

Bài viết bàn về quan niệm và cách ứng xử của tuổi trẻ trong tình yêu, trong bối cảnh cuộc sống hiện đại.

Người viết không dừng ở việc mô tả tình yêu mà hướng tới một câu hỏi cụ thể: yêu như thế nào cho đúng đắn. Quan điểm của người viết được cô đúc ngay ở nhan đề và nhắc lại ở câu kết: yêu là phải biết sống đẹp hơn.

Câu 2. Những luận điểm nào được đưa ra trong bài viết?

Bài viết triển khai theo năm luận điểm:

  1. Tuổi trẻ hôm nay có nhiều thuận lợi trong tình yêu: được bình đẳng, tự do lựa chọn, không còn chịu cảnh “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”, người phụ nữ đã thoát khỏi thân phận lệ thuộc.
  2. Nhưng cuộc sống hiện đại cũng làm nảy sinh nhiều quan niệm và cách ứng xử lệch lạc: yêu dễ dãi, yêu theo trào lưu, coi việc chinh phục là “chiến tích”, sống thử tùy tiện, và nghiêm trọng nhất là trả thù, làm tổn thương người yêu khi bị từ chối hoặc chia tay.
  3. Yêu là biết sống có trách nhiệm với mình và với người mình yêu, luôn đặt cuộc sống và hạnh phúc của người yêu lên hàng đầu.
  4. Yêu là biết sống sao cho xứng đáng với tình yêu: tình cảm riêng tư ấy không tách biệt mà hòa quyện với tình yêu gia đình, quê hương và trách nhiệm với cộng đồng.
  5. Khi tình yêu không được đáp lại hoặc tan vỡ, càng phải ứng xử có trách nhiệm, bao dung và cao thượng.

Cuối cùng, người viết khẳng định những giá trị trên là một “hằng số” – mỗi thời đại có thể thay đổi nhiều tiêu chí, riêng với tình yêu thì không.

Câu 3. Người viết đã sử dụng những loại lí lẽ, bằng chứng nào?

Về lí lẽ, người viết chủ yếu lập luận từ bản chất của tình yêu chân chính: tình yêu thực sự không bao giờ song hành với thói vị kỉ, sự tàn nhẫn, độc ác; ngược lại, tình yêu sâu sắc luôn gắn với lòng bao dung, vị tha, cao thượng và phải trở thành sức mạnh giúp con người vượt lên chính mình. Một lí lẽ khác là mối quan hệ giữa tình yêu đôi lứa với những tình cảm lớn hơn: yêu một người không tách rời việc yêu gia đình, quê hương và có trách nhiệm với cộng đồng.

Về bằng chứng, bài viết huy động từ ba nguồn khác nhau:

Nguồn Bằng chứng cụ thể
Đời sống thực tế và trải nghiệm cá nhân Câu chuyện đôi học sinh nội trú ở trường người viết; chàng trai miền biển vượt qua phản đối của gia đình để đến với cô gái mắc bệnh hiểm nghèo
Văn học Bài thơ Tôi yêu em của Pu-skin; bài ca dao Mình nói dối ta; bài thơ Hôn của Phùng Quán; các câu thơ về người lính
Tư liệu lịch sử Nhật kí của Nguyễn Văn Thạc, Đặng Thùy Trâm

Ngoài ra còn có một loại bằng chứng nữa: các hiện tượng tiêu cực có thật trong đời sống giới trẻ, được dùng làm căn cứ cho phần phản bác.

Sự đa dạng này chính là điều đáng học nhất: bằng chứng vừa gần gũi (chuyện ở trường mình) vừa có tầm khái quát (văn học, lịch sử), nên bài viết không rơi vào lối nói chung chung.

Câu 4. Ý kiến trái chiều nào đã được phản bác? Lí lẽ và bằng chứng phản biện có sức thuyết phục không?

Các ý kiến, quan niệm bị phản bác:

  • Quan niệm cho rằng tình yêu thời hiện đại phải khác tình yêu truyền thống, từ đó dẫn tới việc “đến” và “đi” ngày càng dễ dãi, yêu theo trào lưu cho khỏi tụt hậu, coi số lần chinh phục được người khác là “chiến công”.
  • Đặc biệt là cách biện minh cho hành vi làm tổn thương người yêu: rằng kẻ đó chỉ vì “quá yêu” nên mù quáng, không kiểm soát được bản thân.

Cách phản bác: Người viết không lên án bằng cảm tính mà đi thẳng vào bản chất khái niệm – nếu tình yêu thực sự luôn gắn với bao dung, vị tha, cao thượng, thì thứ tình cảm dẫn đến vị kỉ và tàn nhẫn không thể gọi là tình yêu. Câu “Tôi hoàn toàn không tin những kẻ đó chỉ vì quá yêu…” thể hiện rõ thái độ dứt khoát của người viết.

Đánh giá sức thuyết phục: Phần phản biện có sức thuyết phục, vì ba lí do:

  • Người viết nêu thẳng những hiện tượng có thật, dễ nhận ra trong đời sống, không né tránh.
  • Lập luận đi vào bản chất vấn đề chứ không chỉ dừng ở phán xét đạo đức, nên khó bị bắt bẻ.
  • Ngay sau phần phản bác là hàng loạt bằng chứng đối lập từ nhiều nguồn, khiến việc phủ định cái sai đi liền với việc chứng minh cái đúng – phản bác vì thế không rơi vào áp đặt.

Nếu muốn thuyết phục hơn nữa, người viết có thể phân tích thêm nguyên nhân dẫn đến những quan niệm lệch lạc ấy, thay vì chỉ chỉ ra và bác bỏ.

III. Các bước viết bài

1. Chuẩn bị viết

Chọn đề tài dựa trên trải nghiệm cá nhân và tình hình thực tế. Một số gợi ý trong SGK:

  • Cách giải quyết vấn đề khác biệt thế hệ trong gia đình
  • Cách ứng xử khi nảy sinh mâu thuẫn, xung đột với bạn bè
  • Hình thành, gìn giữ một tình bạn đẹp
  • Có cần tạo thiện cảm với mọi người xung quanh?

Có thể mở rộng sang những vấn đề gần gũi khác: văn hóa ứng xử trên mạng xã hội, cách thể hiện sự tôn trọng với người lớn tuổi, cách ứng xử trong tình yêu tuổi học trò.

2. Tìm ý

Trả lời bốn câu hỏi:

  • Bàn về mối quan hệ nào và vì sao nó quan trọng với tuổi trẻ? Ví dụ, bài tham khảo chỉ ra vị trí của tình yêu trong đời sống tinh thần của giới trẻ trước khi đi vào bàn luận.
  • Quan điểm cá nhân của em là gì? Phải nêu được những cách ứng xử đúng đắn, cụ thể, chứ không chỉ khẳng định vấn đề quan trọng.
  • Sẽ đối thoại với ý kiến trái chiều nào? Cần giả định một vài ý kiến liên quan trực tiếp đến vấn đề, có thể đối chiếu các cách ứng xử khác nhau để làm nổi bật quan điểm của mình.
  • Sẽ dùng lí lẽ gì và bằng chứng nào? Huy động nhiều loại bằng chứng: sách vở, thực tế đời sống, trải nghiệm cá nhân.

3. Lập dàn ý

Mở bài: Giới thiệu vấn đề cần bàn luận.

Thân bài:

  • Nêu ý nghĩa, tầm quan trọng của vấn đề.
  • Trình bày quan điểm và đề xuất cách ứng xử đúng đắn, tốt đẹp.
  • Dùng lí lẽ và bằng chứng để chứng minh.
  • Phản biện một số quan điểm trái chiều.

Kết bài: Khẳng định tầm quan trọng của vấn đề.

4. Viết

  • Mở bài không chỉ nêu vấn đề mà cần tạo sức cuốn hút.
  • Thân bài: mỗi luận điểm thể hiện một khía cạnh trong quan điểm của người viết. Bằng chứng phải đa dạng, lấy từ nhiều nguồn.
  • Một lưu ý riêng của bài học này: người viết cần đặt mình vào vị trí của người trong cuộc để bàn luận. Điểm nhìn ấy làm bài viết thuyết phục hơn hẳn so với giọng điệu đứng ngoài giáo huấn.
  • Kết bài khẳng định ý nghĩa của vấn đề và khơi gợi những điều cần tiếp tục bàn luận.

5. Chỉnh sửa

Đối chiếu bài viết với bốn yêu cầu của kiểu bài. Kiểm tra kĩ: đã có phần nêu và phản bác ý kiến trái chiều chưa; bằng chứng đã đủ đa dạng chưa; kết bài đã gắn cách ứng xử với việc hoàn thiện bản thân và xây dựng cộng đồng chưa.

IV. Bài văn mẫu: Xây dựng và gìn giữ một tình bạn đẹp

Có một câu hỏi mà hầu như ai cũng từng tự hỏi ít nhất một lần trong đời học trò: vì sao có những người ta chơi cùng suốt ba năm cấp ba rồi quên hẳn nhau sau khi ra trường, trong khi có những người chỉ ngồi cạnh nhau một học kì mà mấy chục năm sau vẫn nhớ? Câu trả lời, tôi nghĩ, không nằm ở thời gian mà nằm ở cách mỗi người ứng xử với tình bạn của mình.

Trước hết cần thống nhất một điều: tình bạn đẹp không phải là tình bạn không bao giờ có mâu thuẫn. Đó là mối quan hệ được xây dựng trên sự chân thành, tin tưởng và tôn trọng lẫn nhau – nơi hai người có thể chia sẻ buồn vui, cùng vượt qua khó khăn và giúp nhau tiến bộ. Tình bạn đẹp không đòi hỏi sự hoàn hảo ở mỗi người, mà đòi hỏi sự thấu hiểu.

Với tuổi trẻ, mối quan hệ này có một vị trí đặc biệt. Ở lứa tuổi mà chúng ta bắt đầu muốn tự lập, bắt đầu có những điều khó nói với cha mẹ, thì bạn bè thường là người đầu tiên ta tìm đến. Một người bạn tốt không chỉ là người cùng ta cười lúc vui, mà còn là người khiến ta muốn trở nên tốt hơn. Ngược lại, một mối quan hệ bạn bè sai lệch cũng có thể kéo một người đi rất xa khỏi con đường của mình. Chính vì thế, biết cách xây dựng và gìn giữ tình bạn là một phần của việc hoàn thiện bản thân.

Vậy cần ứng xử thế nào?

Trước hết là sống chân thành. Chân thành nghĩa là không giả dối, không vụ lợi, không cần diễn một phiên bản khác của mình để được chấp nhận. Trong thời đại mà mỗi người đều có một hình ảnh được chọn lọc kĩ trên mạng xã hội, việc dám để bạn nhìn thấy con người thật của mình – kể cả những lúc thất bại – lại càng đáng quý.

Thứ hai là biết lắng nghe. Lắng nghe không phải là im lặng chờ đến lượt mình nói. Đó là đặt mình vào hoàn cảnh của bạn để hiểu điều bạn đang trải qua. Tôi từng có một người bạn trải qua chuyện buồn trong gia đình. Điều duy nhất tôi làm được lúc đó là ngồi cạnh và nghe bạn nói suốt một buổi chiều, không khuyên bảo gì cả. Nhiều năm sau bạn nói với tôi rằng đó là buổi chiều bạn nhớ nhất. Hóa ra thứ người ta cần trong lúc khó khăn thường không phải là lời khuyên.

Thứ ba là ứng xử đúng đắn khi có mâu thuẫn. Mâu thuẫn là điều không thể tránh trong bất kì mối quan hệ nào. Điều quyết định không phải là có mâu thuẫn hay không, mà là cách ta xử lí nó: bình tĩnh, đối thoại trực tiếp thay vì im lặng rồi xa dần, và tuyệt đối không đem chuyện riêng của bạn ra kể với người thứ ba để tìm đồng minh.

Lịch sử và văn học đã lưu giữ nhiều tấm gương về tình bạn khiến người đời sau phải suy ngẫm. Câu chuyện Bá Nha – Tử Kì trong văn học Trung Quốc cổ đại kể về người gảy đàn và người nghe đàn hiểu nhau đến mức Tử Kì cảm nhận được mọi cung bậc trong tiếng đàn của bạn. Khi Tử Kì mất, Bá Nha đập vỡ cây đàn vì cho rằng trên đời không còn ai hiểu được tiếng đàn của mình nữa. Từ câu chuyện ấy, tiếng Việt có thêm hai chữ “tri âm”.

Trong lịch sử, tình bạn giữa C. Mác và Ph. Ăng-ghen là một ví dụ khác. Suốt gần bốn mươi năm, Ăng-ghen đã bền bỉ giúp đỡ Mác cả về vật chất lẫn tinh thần để bạn mình có thể hoàn thành những công trình nghiên cứu lớn, và sau khi Mác qua đời, ông tiếp tục biên soạn những phần còn dang dở. Đó là tình bạn được gắn kết bằng một lí tưởng chung – thứ khiến nó bền hơn mọi sự hợp nhau về tính cách.

Tuy nhiên, quanh chuyện tình bạn cũng có những quan niệm cần được xem lại.

Có ý kiến cho rằng để tình bạn không rạn nứt thì không nên nói về khuyết điểm của bạn. Nghe qua thì có vẻ là một cách giữ gìn quan hệ, nhưng thực chất đó là sự né tránh. Nếu một người bạn thân nhìn thấy ta đang đi sai đường mà vẫn im lặng, thì sự im lặng ấy không phải là tôn trọng, mà là thiếu trách nhiệm. Tất nhiên, góp ý cũng cần có cách: nói riêng chứ không nói trước đám đông, nói vào việc chứ không quy kết con người, và nói vì mong bạn tốt hơn chứ không phải để chứng tỏ mình đúng.

Cũng có ý kiến cho rằng chỉ nên chơi với những người được đánh giá là giỏi giang, thành công, tránh xa những bạn học yếu hoặc nhút nhát. Quan niệm này thực ra không bàn về tình bạn, mà bàn về lợi ích. Một mối quan hệ được lựa chọn dựa trên thành tích thì cũng sẽ bị từ bỏ khi thành tích không còn. Hơn nữa, cái gọi là “bạn học yếu” chỉ là đánh giá ở một phương diện rất hẹp: một người có thể không giỏi làm bài kiểm tra nhưng lại là người tử tế, kiên nhẫn và đáng tin – những phẩm chất mà không bảng điểm nào đo được.

Nói cho cùng, cách một người đối xử với bạn bè cho thấy khá rõ người ấy là ai. Học cách chân thành, biết lắng nghe và biết xử lí mâu thuẫn không chỉ giúp ta giữ được vài người bạn, mà còn là cách ta tập sống với người khác – điều sẽ theo ta suốt đời, ở gia đình, nơi làm việc và trong cộng đồng. Một xã hội mà mọi người biết cư xử tử tế với bạn bè mình cũng khó mà là một xã hội lạnh lùng.

Và có lẽ vẫn còn một câu hỏi đáng để mỗi chúng ta tự trả lời: giữa việc tìm được một người bạn tốt và việc trở thành một người bạn tốt, điều nào khó hơn?

V. Dàn ý tham khảo: Cách giải quyết vấn đề khác biệt thế hệ trong gia đình

Mở bài: Dẫn từ một tình huống quen thuộc (một cuộc tranh cãi với cha mẹ về chuyện chọn ngành, chuyện dùng điện thoại…) để nêu vấn đề: người trẻ nên ứng xử thế nào trước khoảng cách thế hệ trong gia đình.

Thân bài:

  1. Thực chất của khác biệt thế hệ: không phải ai đúng ai sai, mà là hai thế hệ lớn lên trong hai hoàn cảnh khác nhau nên có hệ giá trị khác nhau.
  2. Vì sao vấn đề này quan trọng với tuổi trẻ: gia đình là mối quan hệ đầu tiên và lâu bền nhất; cách ứng xử ở đây định hình cách ta ứng xử ở mọi nơi khác.
  3. Cách ứng xử đúng đắn:
    • Chủ động đối thoại thay vì im lặng hoặc phản ứng gay gắt.
    • Trình bày quan điểm bằng lí lẽ và bằng chứng, không bằng cảm xúc.
    • Tìm hiểu hoàn cảnh sống của thế hệ trước để hiểu vì sao họ nghĩ như vậy.
    • Chấp nhận rằng có những khác biệt không thể xóa bỏ, chỉ có thể tôn trọng.
  4. Bằng chứng: trải nghiệm cá nhân; các nhân vật văn học trong mối quan hệ cha mẹ – con cái; câu chuyện thực tế về những gia đình vượt qua bất đồng.
  5. Phản biện ý kiến trái chiều:
    • “Cha mẹ luôn đúng vì đã trải đời nhiều hơn” → kinh nghiệm là quý nhưng không phải mọi kinh nghiệm đều còn phù hợp với hoàn cảnh mới.
    • “Người trẻ nên tự quyết, không cần bàn với gia đình” → tự chủ khác với đơn độc; loại bỏ cha mẹ khỏi quyết định của mình là tự tước đi một nguồn hỗ trợ.

Kết bài: Khẳng định khác biệt thế hệ không phải bức tường mà là khoảng cách có thể rút ngắn bằng đối thoại; gợi mở: người trẻ hôm nay rồi cũng sẽ trở thành thế hệ trước của một ai đó.

ThS. Nguyễn Thành Đạt

ThS. Nguyễn Thành Đạt

(Người kiểm duyệt, ra đề)

Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Ngữ Văn THPT

Trình độ: Thạc sĩ Ngữ Văn, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ CNTT, Ngoại ngữ B1

Kinh nghiệm: 10+ năm kinh nghiệm tại Trường THPT Hoàng Thế Thiện