Nói và nghe: Trình bày kết quả so sánh, đánh giá hai tác phẩm thơ – Ngữ văn 12

Mục lục [Ẩn]

Chọn đến phần học sinh cần nhanh chóng thông qua mục lục bằng cách click đến phần đó

I. Yêu cầu của bài nói

  • Giới thiệu được hai bài thơlí do lựa chọn hai bài thơ đó để so sánh, đánh giá.
  • Phân tích những điểm tương đồngkhác biệt giữa hai bài thơ xét theo một số phương diện đã xác định.
  • Có những nhận xét, đánh giá thuyết phục về giá trị và đóng góp của mỗi bài thơ dựa trên kết quả so sánh.
  • Nêu được những ý kiến trao đổi xác đáng giúp người nói và người nghe có cái nhìn đầy đủ, toàn diện hơn về hai bài thơ.

II. Quy trình nói và nghe

1. Chuẩn bị nói

  • Tóm tắt nội dung bài viết so sánh, đánh giá hai tác phẩm thơ đã thực hiện ở phần Viết.
  • Đánh dấu những luận điểm hoặc thông tin chính của bài viết; ghi chú những dẫn chứng quan trọng cần nêu khi trình bày.
  • Xác định từ ngữ then chốt gắn với từng luận điểm để dễ triển khai, đảm bảo bài nói có trọng tâm.
  • Chuẩn bị các phương tiện kĩ thuật hỗ trợ (slide, bảng, hình ảnh minh hoạ…) với thông tin chắt lọc về mỗi bài thơ.

2. Thực hành nói

Bài nói gồm 3 phần:

  • Mở đầu: giới thiệu hai bài thơ và lí do lựa chọn để so sánh, đánh giá. Có thể dẫn dắt trực tiếp hoặc gián tiếp; lí do là khách quan hay chủ quan đều được, nhưng cần nêu cơ sở để so sánh.
  • Triển khai:
    • Trình bày những điểm tương đồng và khác biệt giữa hai bài thơ trên một số phương diện đã xác định.
    • Đánh giá giá trịđóng góp của mỗi bài thơ dựa trên kết quả so sánh.
  • Kết luận: nêu ý nghĩa của việc so sánh, đánh giá trong tiếp nhận văn bản thơ.

3. Trao đổi, đánh giá

Người nghe Người nói
Nhận xét về độ chính xác, đầy đủ của các nội dung so sánh; cách sử dụng ngôn ngữ và yếu tố phi ngôn ngữ. Yêu cầu người nói giải thích thêm nếu còn khía cạnh chưa rõ. Làm rõ thêm những ý mà người nghe chưa rõ.
Bổ sung, chia sẻ một số nội dung giúp người nói có cái nhìn đầy đủ, toàn diện hơn về hai bài thơ (cơ sở so sánh, cách trình bày…). Tiếp thu góp ý hoặc trao đổi lại với một số ý kiến của người nghe về nội dung và cách thực hiện bài nói.

III. Bài nói tham khảo

Đề tài: So sánh, đánh giá hai bài thơ Tây Tiến (Quang Dũng) và Đàn ghi ta của Lor-ca (Thanh Thảo).

Kính chào thầy cô và các bạn!

Hôm nay em xin trình bày kết quả so sánh, đánh giá hai bài thơ Tây Tiến (Quang Dũng) và Đàn ghi ta của Lor-ca (Thanh Thảo). Em chọn hai tác phẩm này vì cả hai đều là những đỉnh cao của thơ hiện đại Việt Nam, cùng khắc hoạ hình tượng con người mang vẻ đẹp bi tráng, hào hùng, nhưng lại đại diện cho hai phong cách nghệ thuật khác biệt – qua đó có thể thấy rõ sự phong phú của “những thế giới thơ”.

1. Cơ sở và phương diện so sánh

Em tiến hành so sánh dựa trên cơ sở: cả hai đều là thơ trữ tình hiện đại, cùng viết về con người phi thường mang vẻ đẹp bi tráng, có kết hợp giữa hiện thực và lãng mạn. Em tập trung vào 4 phương diện: đề tài – cảm hứng, hình tượng trung tâm, bút pháp nghệ thuật, ngôn ngữ và thể thơ.

2. Kết quả so sánh, đánh giá

a) Điểm tương đồng:

  • Cả hai đều khắc hoạ hình tượng con người phi thường mang vẻ đẹp bi tráng, hào hùng: người lính Tây Tiến với “chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”; Lor-ca với hình ảnh chàng nghệ sĩ “đi lang thang về miền đơn độc”.
  • Cả hai đều có chất lãng mạn đậm đà, mang cảm hứng ngợi ca những con người đã cống hiến, hi sinh cho lí tưởng.
  • Cả hai đều có ngôn ngữ giàu chất tạo hình, giàu nhạc điệu, kết hợp nhiều loại hình nghệ thuật (thơ – nhạc – hoạ).

b) Điểm khác biệt (trọng tâm):

Phương diện Tây Tiến (Quang Dũng) Đàn ghi ta của Lor-ca (Thanh Thảo)
Đề tài, cảm hứng Hoài niệm về đoàn quân Tây Tiến và núi rừng miền Tây Tưởng nhớ, ngưỡng vọng nghệ sĩ Lor-ca của Tây Ban Nha
Hình tượng trung tâm Người lính Tây Tiến – vừa hào hoa, mộng mơ vừa kiêu hùng, bi tráng Nghệ sĩ Lor-ca – cô đơn, khát vọng cách tân, chịu cái chết oan khuất
Bút pháp Lãng mạn – hiện thực, gam màu tương phản (dữ dội – trữ tình) Tượng trưng, siêu thực, hình ảnh biến ảo, liên tưởng bất ngờ
Thể thơ, ngôn ngữ Thể thất ngôn (7 chữ), ngôn ngữ cổ điển – hào hùng Thơ tự do, không dấu câu, ngôn ngữ hiện đại, độc đáo với chuỗi hình ảnh biểu tượng
  • Dẫn chứng nổi bật ở Tây Tiến: hình ảnh “Rải rác biên cương mồ viễn xứ / Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh” – vừa bi thương (mồ viễn xứ) vừa hào hùng (không tiếc đời xanh), thể hiện bút pháp lãng mạn làm bật lên vẻ đẹp bi tráng của người lính.
  • Dẫn chứng nổi bật ở Đàn ghi ta của Lor-ca: chuỗi hình ảnh “tiếng ghi ta nâu / bầu trời cô gái ấy / tiếng ghi ta lá xanh biết mấy / tiếng ghi ta tròn bọt nước vỡ tan / tiếng ghi ta ròng ròng / máu chảy”tượng trưng, siêu thực, mỗi “tiếng ghi ta” mang một màu sắc, số phận khác nhau, gợi cái chết đau thương của Lor-ca.

c) Đánh giá giá trị và đóng góp riêng:

  • Tây Tiếnđỉnh cao của thơ kháng chiến chống Pháp, đóng góp một hình tượng người lính hào hoa – kiêu hùng – bi tráng vào thơ ca Việt Nam. Đây là bài thơ tiêu biểu cho bút pháp lãng mạn trong thơ hiện đại.
  • Đàn ghi ta của Lor-cathành tựu của thơ hiện đại thời kì đổi mới, cho thấy sự cách tân mạnh mẽ của thơ Việt Nam với bút pháp tượng trưng, siêu thực. Bài thơ mở rộng biên giới thơ Việt ra tầm nhân loại qua hình tượng một nghệ sĩ nước ngoài.

3. Ý nghĩa của việc so sánh

Qua so sánh, em rút ra:

  • Thấy được sự phong phú, đa dạng của thơ hiện đại Việt Nam – từ lãng mạn đến tượng trưng – siêu thực.
  • Nhận ra cá tính sáng tạo riêng của mỗi nhà thơ: Quang Dũng với chất hào hoa, cổ điển, Thanh Thảo với chất hiện đại, cách tân.
  • Hiểu rõ hơn quy luật vận động của thơ ca dân tộc: mỗi thời đại đều để lại những kiệt tác mang dấu ấn riêng.
  • So sánh giúp việc tiếp nhận thơ trở nên sâu sắc, đa chiều, tránh cách đọc một chiều, phiến diện.

Trên đây là phần trình bày của em. Rất mong nhận được ý kiến đóng góp của thầy cô và các bạn. Em xin chân thành cảm ơn!

ThS. Nguyễn Thành Đạt

ThS. Nguyễn Thành Đạt

(Người kiểm duyệt, ra đề)

Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Ngữ Văn THPT

Trình độ: Thạc sĩ Ngữ Văn, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ CNTT, Ngoại ngữ B1

Kinh nghiệm: 10+ năm kinh nghiệm tại Trường THPT Hoàng Thế Thiện