Viết bài văn nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm thơ (trang 52)

I. Kiểu bài và yêu cầu cần đạt

Mục tiêu của kiểu bài này là chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa hai bài thơ, từ đó nêu được giá trị đặc sắc, những yếu tố cách tân và đóng góp riêng của từng tác giả, tác phẩm.

Thử thách lớn nhất nằm ở ba việc: xác định cơ sở so sánh, chọn đúng các phương diện cần so sánh, và lựa chọn cách triển khai phù hợp.

Bốn yêu cầu của kiểu bài:

  1. Giới thiệu ngắn gọn về hai bài thơ, nêu được cơ sở lựa chọn hai tác phẩm để so sánh.
  2. Làm sáng tỏ những điểm tương đồng và khác biệt, có bằng chứng cụ thể, đa dạng từ hai tác phẩm.
  3. Đưa ra nhận xét, đánh giá thuyết phục về ý nghĩa và đóng góp riêng của mỗi bài thơ, dựa trên các nội dung đã so sánh.
  4. Nêu khái quát kết quả và ý nghĩa của việc so sánh, đánh giá.

II. Cơ sở và phương diện so sánh

Cơ sở so sánh trả lời câu hỏi: vì sao hai bài thơ này có thể đặt cạnh nhau? Cơ sở được xác định dựa trên cả nội dung (hiện thực đời sống, tư tưởng, tình cảm của tác giả) lẫn hình thức nghệ thuật (thể loại, ngôn ngữ, kết cấu, giọng điệu, hình ảnh, thủ pháp).

Phạm vi lựa chọn rất mở: hai bài thơ có thể của hai tác giả hoặc của cùng một tác giả, cùng giai đoạn hoặc khác giai đoạn.

Các phương diện thường được đưa ra so sánh: đối tượng cụ thể được miêu tả, cảm hứng, cái nhìn nghệ thuật, bút pháp, hình ảnh, ngôn ngữ, giọng điệu.

Một số hướng đề tài gợi ý:

Hướng so sánh Ví dụ
Hai tác phẩm thuộc giai đoạn, xu hướng khác nhau Tiếng nói tri âm trong Độc Tiểu Thanh kí (Nguyễn Du) và Đàn ghi ta của Lor-ca (Thanh Thảo)
Cảm hứng và bút pháp Cảm hứng về đất nước trong Đất nước (Nguyễn Đình Thi) và Việt Bắc (Tố Hữu)
Hình tượng Hình tượng người lính trong Đồng chí (Chính Hữu) và Tây Tiến (Quang Dũng); hình tượng người phụ nữ trong Tự tình II (Hồ Xuân Hương) và Thuyền và biển (Xuân Quỳnh)
Hình thức nghệ thuật Cách thể hiện nỗi nhớ trong Tây Tiến (Quang Dũng) và Tiếng hát con tàu (Chế Lan Viên)

III. Ba cách triển khai thân bài

Đây là điểm cần cân nhắc kĩ nhất. SGK nêu ba cách, mỗi cách đều có mặt mạnh và mặt yếu:

Cách Cách làm Ưu điểm Hạn chế
Cách 1 Lần lượt phân tích từng bài thơ, sau đó mới chỉ ra tương đồng, khác biệt, lí giải nguyên nhân và đánh giá Dễ thực hiện Dễ trùng lặp ý; mục đích so sánh không nổi bật
Cách 2 Phân tích bài thứ nhất theo các phương diện đã xác định; khi phân tích bài thứ hai thì đối chiếu ngay với bài thứ nhất theo từng phương diện Dễ thực hiện, tránh trùng lặp, thể hiện tốt ý so sánh Mạch so sánh ở phần bài thứ nhất dễ bị chìm
Cách 3 So sánh lần lượt từng phương diện đối với cả hai bài thơ Làm nổi bật rõ nhất tính chất so sánh Dễ làm mờ tính chỉnh thể của mỗi bài; đòi hỏi tư duy tổng hợp và lập luận chặt

Không có cách nào “đúng” hơn cách nào. Hãy chọn cách mình làm tốt nhất – nhưng nếu chọn cách 1, phải đặc biệt chú ý phần so sánh, đừng để bài viết thành hai bài phân tích ghép lại.

IV. Trả lời câu hỏi về bài viết tham khảo

Bài viết tham khảo trong SGK so sánh cảm hứng mùa thu trong Thu vịnh (Nguyễn Khuyến) và Đây mùa thu tới (Xuân Diệu).

Câu 1. Tác giả đã dựa trên những cơ sở nào khi chọn hai bài thơ để so sánh, đánh giá?

Ba cơ sở, và điều đáng chú ý là chúng bổ sung cho nhau:

  • Cùng đề tài mùa thu xứ Bắc – một đề tài truyền thống, “cảm hứng bất tận” của thi nhân từ xưa đến nay. Đây là cơ sở cho phần tương đồng.
  • Cùng là những thi phẩm nổi tiếng của hai nhà thơ lớn, đủ tiêu biểu để việc so sánh có ý nghĩa.
  • Thuộc hai thời đại và hai quan điểm thẩm mĩ khác nhau: Nguyễn Khuyến là nhà Nho uyên bác đã cáo quan về ẩn dật; Xuân Diệu là trí thức Tây học sống giữa thời cái tôi cá nhân đang trỗi dậy. Đây là cơ sở cho phần khác biệt.

Nếu chỉ có cơ sở thứ nhất thì bài viết sẽ nhạt, vì hai bài thơ quá giống nhau. Chính cơ sở thứ ba mới làm cho việc so sánh trở nên đáng viết.

Về phạm vi, bài viết so sánh trên cả hai bình diện: nội dung miêu tả (cảnh thu, tình thu) và cách thể hiện (chọn hình ảnh, tổ chức không gian, bút pháp).

Câu 2. Bài viết triển khai các nội dung so sánh như thế nào? Nhận xét về hiệu quả của cách triển khai đó.

Trình tự triển khai gồm sáu bước:

  1. Giới thiệu hai bài thơ và định hướng so sánh.
  2. Phân tích điểm tương đồng: cả hai đều là cảnh thu đẹp mà tình thu buồn, đều dùng những nét chấm phá tinh tế, gợi cảm giác mơ màng, man mác.
  3. Nêu nguyên nhân của sự khác biệt trước khi đi vào phân tích: hai nhà thơ thuộc hai thời đại, hai quan điểm thẩm mĩ.
  4. Phân tích nét riêng của Thu vịnh: cảnh thu làng quê, không gian thu hẹp bề rộng mà mở về chiều cao, cảnh ngưng đọng trong hoài niệm; tình thu day dứt với nỗi “thẹn với ông Đào”.
  5. Phân tích nét riêng của Đây mùa thu tới trong sự đối sánh: cảnh thu phố phường, hồn thu là cây liễu chứ không phải cây trúc, cảnh không ngưng đọng mà vận động theo dòng thời gian, nỗi buồn đầy trực cảm của cái tôi cá nhân.
  6. Khẳng định giá trị của hai bài thơ và ý nghĩa của việc so sánh.

Nhận xét về hiệu quả:

Bài viết đi theo cách 2 – phân tích Thu vịnh trước, rồi phân tích Đây mùa thu tới trong thế đối chiếu liên tục (“nếu hồn thu trong Thu vịnh là cây trúc thì hồn thu trong Đây mùa thu tới là cây liễu”).

Cách triển khai này có ba ưu điểm rõ:

  • Nêu tương đồng trước, khác biệt sau là hợp lí, vì sự tương đồng chính là lí do khiến hai bài thơ được đặt cạnh nhau.
  • Lí giải nguyên nhân khác biệt trước khi phân tích từng bài, nên người đọc có sẵn “chìa khóa” để hiểu vì sao hai bức tranh thu lại khác nhau đến thế.
  • Giữ được tính chỉnh thể của mỗi bài thơ, đồng thời vẫn không mất mạch so sánh nhờ những câu đối chiếu trực tiếp.

Hạn chế là ở phần phân tích Thu vịnh, mạch so sánh hơi mờ vì chưa có đối tượng để đặt cạnh.

Câu 3. Có thể có những cách trình bày nào khác?

Cách 1 – phân tích trọn vẹn Thu vịnh, rồi phân tích trọn vẹn Đây mùa thu tới, sau đó mới tổng hợp lại điểm giống, điểm khác và đánh giá. Dễ viết, nhưng phần so sánh dồn về cuối nên dễ thành hai bài phân tích ghép lại.

Cách 3 – chia thân bài theo phương diện, mỗi phương diện đối chiếu ngay hai bài:

  • Cảnh thu: không gian làng quê ngưng đọng ↔ không gian phố phường vận động.
  • Tình thu: nỗi buồn hoài niệm, day dứt về nhân cách ↔ nỗi buồn trực cảm, cô đơn nhưng khao khát giao cảm.
  • Bút pháp: chấm phá, ước lệ, đậm màu cổ điển ↔ hình ảnh giàu tính cảm giác, đậm chất hiện đại.

Cách này làm bật rõ nhất tính chất so sánh, nhưng đòi hỏi khả năng tổng hợp tốt hơn.

Ngoài ra, có thể mở rộng phần tương đồng bằng cách lí giải sâu hơn về sự gặp gỡ của hai thi nhân trong tình yêu thiên nhiên, đất nước.

V. Các bước viết bài

1. Chuẩn bị viết

Xác định cơ sở so sánh gắn với đặc trưng thể loại thơ (đề tài, phong cách sáng tác, bút pháp), rồi từ cơ sở đó chọn hai bài thơ tiêu biểu có những điểm tương đồng và khác biệt có ý nghĩa – tránh chọn hai bài chỉ giống nhau bề ngoài.

2. Tìm ý

Câu hỏi Dùng cho phần nào
So sánh hai bài thơ dựa trên cơ sở nào? Mở bài
Điểm tương đồng giữa hai bài là gì? Luận điểm 1
Đâu là điểm khác biệt? Luận điểm 2
Yếu tố nào tạo nên sự tương đồng và khác biệt ấy? Lí giải – phần tạo chiều sâu
Đánh giá thế nào về giá trị của mỗi bài thơ? Đánh giá và kết bài

Với câu hỏi thứ tư, cần nhớ: sự tương đồng thường bắt nguồn từ đặc trưng chung của thơ ca và sự đồng điệu tâm hồn; sự khác biệt thường bắt nguồn từ phong cách riêng của mỗi nhà thơ hoặc từ xu hướng thi ca của từng giai đoạn.

3. Lập dàn ý

Mở bài: Giới thiệu ngắn gọn hai bài thơ, nêu cơ sở lựa chọn để so sánh.

Thân bài: Chọn một trong ba cách triển khai ở mục III, đảm bảo có đủ: điểm tương đồng, điểm khác biệt, lí giải nguyên nhân, đánh giá giá trị và đóng góp của mỗi bài.

Kết bài: Khẳng định ý nghĩa của việc so sánh; nêu cảm nhận, ấn tượng riêng về hai bài thơ.

4. Viết

  • Mở bài và kết bài ngắn gọn, gây ấn tượng về ý nghĩa của việc so sánh.
  • Chọn dẫn chứng tiêu biểu, phù hợp với từng nội dung so sánh; trích thơ phải chính xác và tách dòng đúng bản gốc.
  • Mỗi dẫn chứng đều phải kèm lí giải, đánh giá – không để dẫn chứng đứng trơ.
  • Cố gắng có sáng tạo riêng: một phát hiện sâu hoặc một cách diễn đạt độc đáo sẽ làm bài viết bật lên.

5. Chỉnh sửa

Ngoài lỗi chính tả và diễn đạt, cần tập trung kiểm tra hai điều: cơ sở so sánh đã được nêu rõ chưa, và các phương diện so sánh có được triển khai nhất quán ở cả hai bài thơ không.

VI. Bài văn mẫu

Đề bài: So sánh, đánh giá hình tượng người lính trong hai bài thơ Đồng chí (Chính Hữu) và Tây Tiến (Quang Dũng).

(Bài viết triển khai theo cách 3: so sánh lần lượt theo từng phương diện.)

Mở bài

Trong thơ ca kháng chiến chống Pháp, hình tượng người lính là nơi hội tụ những vẻ đẹp cao quý nhất của dân tộc. Đồng chí của Chính Hữu và Tây Tiến của Quang Dũng cùng ra đời năm 1948, cùng do những nhà thơ vốn là chiến sĩ viết ra, và cùng khắc họa hình ảnh anh bộ đội trong buổi đầu kháng chiến. Đó là cơ sở để đặt hai bài thơ cạnh nhau.

Nhưng điều thú vị là hai bài thơ ấy lại cho ta hai chân dung rất khác nhau. So sánh chúng, ta không chỉ thấy sự gặp gỡ của hai nhà thơ trong cảm hứng ngợi ca người lính, mà còn thấy hai lối tạo hình khác biệt đã bổ sung cho nhau để hoàn chỉnh bức chân dung anh bộ đội Cụ Hồ.

Thân bài

1. Thông tin khái quát

Đồng chí được Chính Hữu viết đầu năm 1948, sau khi ông cùng đồng đội tham gia chiến dịch Việt Bắc thu đông 1947, về sau in trong tập Đầu súng trăng treo.

Tây Tiến được Quang Dũng viết cuối năm 1948 tại Phù Lưu Chanh, khi ông đã rời binh đoàn Tây Tiến sang đơn vị khác. Bài thơ ban đầu có nhan đề Nhớ Tây Tiến, in trong tập Mây đầu ô.

Điểm chung đáng chú ý: cả hai tác giả đều là người trong cuộc. Chính Hữu là chính trị viên đại đội, Quang Dũng từng là đại đội trưởng của đoàn quân Tây Tiến. Vì thế cả hai đều viết về đồng đội bằng cái nhìn từ bên trong.

2. So sánh về xuất thân và hoàn cảnh của người lính

Đây là chỗ hai bài thơ khác nhau ngay từ điểm xuất phát.

Người lính trong Đồng chí là những nông dân mặc áo lính:

Quê hương anh nước mặn, đồng chua

Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá.

Hai vùng đất khác nhau nhưng cùng một cái nghèo. Họ đến với nhau từ những “xa lạ phương trời chẳng hẹn quen nhau”, và chính cái nghèo chung ấy là nền tảng đầu tiên của tình đồng chí.

Người lính Tây Tiến phần đông là thanh niên trí thức Hà thành. Họ ra đi mang theo cả một Hà Nội trong lòng:

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.

Cùng là người lính, nhưng một bên là người rời luống cày, một bên là người rời giảng đường. Sự khác biệt về xuất thân này chi phối toàn bộ cách hai nhà thơ dựng chân dung nhân vật.

Tuy vậy, hoàn cảnh gian khổ thì giống nhau, và cả hai bài đều không né tránh điều đó. Chính Hữu viết rất thực:

Áo anh rách vai Quần tôi có vài mảnh vá

Miệng cười buốt giá Chân không giày.

Quang Dũng cũng không giấu bệnh tật và những con dốc hiểm trở:

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm.

Điều khác nằm ở chỗ: Chính Hữu để cái gian khổ hiện nguyên hình trong dáng vẻ đời thường, còn Quang Dũng biến chính cái tiều tụy vì sốt rét thành một nét dữ dằn, oai phong.

3. So sánh về vẻ đẹp tâm hồn

Cả hai bài đều ngợi ca vẻ đẹp bên trong của người lính, nhưng chọn hai điểm nhấn khác nhau.

Đồng chí nhấn vào tình đồng đội. Vẻ đẹp ấy được thể hiện bằng những cử chỉ rất nhỏ:

Thương nhau tay nắm lấy bàn tay.

Không lời hứa hẹn, chỉ một cái nắm tay – nhưng đủ để truyền hơi ấm giữa “rừng hoang sương muối”. Bài thơ khép lại bằng hình ảnh đã thành biểu tượng:

Đầu súng trăng treo.

Súng là hiện thực chiến tranh, trăng là chất thơ của tâm hồn. Hai thứ tưởng đối lập lại đứng cạnh nhau trong một câu thơ bốn chữ.

Tây Tiến nhấn vào lí tưởng và khí phách:

Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành.

Quang Dũng nói thẳng về những nấm mồ, nhưng không để bài thơ chùng xuống. Những từ Hán Việt trang trọng – “biên cương”, “viễn xứ”, “áo bào”, “độc hành” – nâng cái chết lên tầm bi tráng. Cái chết trở thành sự trở về của người tráng sĩ.

4. So sánh về bút pháp và giọng điệu

Đây là chỗ khác biệt rõ nhất, và cũng là chỗ bộc lộ cá tính của hai nhà thơ.

Chính Hữu dùng bút pháp tả thực. Ngôn ngữ giản dị, gần lời nói thường; câu thơ có khi chỉ ba, bốn chữ, ngắn như một hơi thở dồn. Giọng thơ tâm tình, thủ thỉ như lời trò chuyện giữa hai người đồng đội:

Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh

Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi.

Quang Dũng dùng bút pháp lãng mạn. Ông ưa những hình ảnh có sức khái quát cao, những từ ngữ tạo âm hưởng, những đối lập gay gắt giữa dữ dội và mềm mại. Câu thơ bảy chữ đều đặn tạo nhịp hành quân, xen với những câu toàn thanh bằng gợi sự nhẹ nhõm, mơ màng.

Nguyên nhân của sự khác biệt nằm ở hai chỗ. Thứ nhất là đối tượng miêu tả: người lính nông dân đòi một lối viết mộc mạc, người lính trí thức hào hoa gợi một lối viết bay bổng. Thứ hai là cá tính sáng tạo: Chính Hữu vốn kiệm lời, thiên về sự cô đọng và chân thực; Quang Dũng là người nghệ sĩ đa tài, hồn thơ phóng khoáng, lãng mạn.

5. Đánh giá

Cả hai bài thơ đều là thành tựu xuất sắc của thơ ca kháng chiến chống Pháp, và mỗi bài có một đóng góp không thể thay thế.

Đồng chí có công phát hiện và đặt tên cho một thứ tình cảm mới của thời đại: tình đồng chí – thứ tình cảm nảy sinh từ sự chia sẻ cái nghèo, cái rét và cái chết. Bài thơ chứng minh rằng sức mạnh của quân đội ta không chỉ ở vũ khí.

Tây Tiến dựng lên một tượng đài người lính vừa hào hùng vừa hào hoa, và quan trọng hơn, nó cho thấy thơ kháng chiến vẫn có chỗ cho cái lãng mạn, cho nỗi nhớ “dáng kiều thơm” – điều từng có thời bị nhìn nhận khắt khe.

Điều mà chỉ việc so sánh mới cho thấy là: hai vẻ đẹp ấy không loại trừ mà bù đắp cho nhau. Nếu chỉ đọc Đồng chí, ta có một người lính chân thực nhưng dễ nghĩ rằng thơ kháng chiến chỉ có sự mộc mạc. Nếu chỉ đọc Tây Tiến, ta có một người lính kiêu hùng nhưng dễ quên rằng phần đông bộ đội ta bước ra từ ruộng đồng. Đặt cạnh nhau, hai bài thơ mới cho một bức chân dung đầy đủ.

Kết bài

Đặt Đồng chíTây Tiến trong tương quan so sánh, ta thấy hai nhà thơ chiến sĩ đã gặp nhau ở tình yêu và niềm tự hào dành cho đồng đội, nhưng mỗi người lại tìm được một con đường riêng để nói điều đó: Chính Hữu chọn sự giản dị của người trong cuộc, Quang Dũng chọn vẻ tráng lệ của nỗi nhớ.

Chính sự khác biệt ấy làm nên cái giàu có của thơ ca kháng chiến – một nền thơ cùng hướng về một lí tưởng mà vẫn giữ được nhiều giọng nói khác nhau. Và đó cũng là ý nghĩa của việc so sánh: không phải để chọn ra bài thơ hay hơn, mà để hiểu rằng mỗi tác phẩm chỉ hiện ra đầy đủ khi được đọc bên cạnh một tác phẩm khác.

ThS. Nguyễn Thành Đạt

ThS. Nguyễn Thành Đạt

(Người kiểm duyệt, ra đề)

Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Ngữ Văn THPT

Trình độ: Thạc sĩ Ngữ Văn, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ CNTT, Ngoại ngữ B1

Kinh nghiệm: 10+ năm kinh nghiệm tại Trường THPT Hoàng Thế Thiện