Viết bài văn nghị luận về một vấn đề liên quan đến tuổi trẻ (những hoài bão, ước mơ) (trang 80)

I. Kiểu bài và yêu cầu cần đạt

Đây là kiểu bài nghị luận xã hội, nhưng phạm vi đã được thu hẹp: bàn về những vấn đề khơi gợi suy nghĩ về bổn phận, tác động đến việc hình thành nhân cách của giới trẻ. Viết kiểu bài này không chỉ để rèn kĩ năng nghị luận mà còn để định hướng cho lựa chọn hành động của chính mình.

Bốn yêu cầu của kiểu bài:

  1. Nêu được vấn đề có ý nghĩa, liên quan đến những hoài bão, ước mơ của tuổi trẻ.
  2. Trình bày hệ thống luận điểm hợp lí, chặt chẽ; lí lẽ sắc bén, bằng chứng xác đáng; biết phối hợp các thao tác giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận, so sánh, bác bỏ.
  3. Nêu và phản bác được ý kiến trái chiều để củng cố quan điểm của mình.
  4. Kết bài gây ấn tượng, thúc giục tuổi trẻ hành động.

Yêu cầu 3 và 4 là hai điểm dễ bị bỏ quên nhất. Một bài viết thiếu phần phản bác sẽ chỉ là lời khẳng định một chiều; một bài viết kết thúc bằng vài câu tóm tắt sẽ không đạt được mục đích của kiểu bài này.

II. Hai lưu ý riêng của kiểu bài

Thứ nhất: vấn đề liên quan đến tuổi trẻ không đồng nghĩa với vấn đề của riêng tuổi trẻ. Đề tài được chọn có thể liên quan đến mọi thành viên trong cộng đồng – chẳng hạn áp lực thành công, cách nhìn về thất bại, tác động của công nghệ. Điều quan trọng là em phải triển khai luận điểm từ góc nhìn của tuổi trẻ và khai thác những gì liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến người trẻ.

Thứ hai: viết với tâm thế của người trong cuộc. Hãy viết như đang trả lời những câu hỏi mà chính em vẫn thường tự đặt ra: về việc học, về tương lai, về những gì mình có và những gì mình còn thiếu. Dẫn chứng nên gắn với đời sống tuổi trẻ và trải nghiệm của bản thân, tránh lối viết khuôn mẫu, công thức.

III. Trả lời câu hỏi về bài viết tham khảo

Bài viết tham khảo là bài Giá trị của tuổi trẻ của Giáo sư Nguyễn Lân Dũng, đăng trên báo Đại đoàn kết ngày 17/3/2023.

Câu 1. Vấn đề gì liên quan đến tuổi trẻ được nêu để bàn luận? Người viết đặt mình vào vị trí nào?

Vấn đề bàn luận: giá trị của tuổi trẻ – tuổi trẻ có tiềm năng và vai trò gì đối với xã hội, và cần làm gì để tiềm năng ấy trở thành giá trị thật. Ngay ở câu mở đầu, tác giả đã nêu trực tiếp luận đề: người trẻ là tác nhân lớn nhất của sự thay đổi trong một xã hội.

Vị trí của người viết: tác giả đứng ở vị trí người đi trước, một nhà giáo dục, chứ không phải người trong cuộc. Điều này thể hiện qua ba dấu hiệu:

  • Cách xưng hô: gọi người đọc là “bạn”, nói với tư cách người có kinh nghiệm chia sẻ với thế hệ sau.
  • Cách lấy bằng chứng: xuất phát từ chính những người ông đã gặp (“Tôi đã từng gặp không ít bạn trẻ tài giỏi…”).
  • Thái độ: vừa tin tưởng ở người trẻ, vừa bênh vực họ trước định kiến của xã hội, đồng thời nhắc đến trách nhiệm của gia đình, nhà trường.

Đây là điểm các em cần lưu ý: khi tự viết bài, các em ở vị trí người trong cuộc, nên giọng điệu sẽ khác – gần gũi hơn, nhiều tự vấn hơn, và dẫn chứng nên đến từ chính đời sống của mình.

Câu 2. Bài viết triển khai mấy luận điểm? Cách phối hợp giữa lí lẽ và bằng chứng ở từng luận điểm?

Bài viết có hai luận điểm, mỗi luận điểm được đặt thành một tiểu mục riêng.

Luận điểm 1 – “Xây dựng tương lai cho tuổi trẻ”. Luận điểm này đi theo hướng từ bằng chứng đến lí lẽ:

  • Mở đầu bằng ba câu chuyện người thật: Trịnh Xuân Mười, chàng trai nghèo ở Nghệ An vào Tây Nguyên lập nghiệp, tạo ra bốn giống bơ quý và trở thành “vua bơ”; Nguyễn Ngọc Bảo Khanh, cậu bé chỉ có một cánh tay rưỡi mà học giỏi, biết vẽ, chơi piano và viết tự truyện bằng tiếng Anh; Lê Thị Thắm, cô gái sinh ra không có hai tay, viết bằng chân, tốt nghiệp đại học và dạy tiếng Anh miễn phí cho trẻ trong làng.
  • Từ những trường hợp cụ thể ấy mới khái quát thành lí lẽ: giá trị của tuổi trẻ nằm ở sự chăm chỉ, nỗ lực, dũng cảm, ở sự phấn đấu và cống hiến; thanh niên là xương sống của bất kì quốc gia nào.
  • Tiếp đó, tác giả nêu định kiến để phản bác: có người lớn cho rằng giới trẻ ngày nay nghiện công nghệ, không muốn làm việc, chỉ lo vui chơi. Ông không bác bỏ bằng lời gay gắt mà chuyển định kiến ấy thành một thử thách đặt ra cho chính người trẻ: phải làm sao để xã hội thấy được tiềm năng thật của mình.
  • Cuối cùng dùng ý kiến của người có uy tín để củng cố: câu nói của Franklin D. Roosevelt về việc “xây dựng tuổi trẻ cho tương lai”.

Luận điểm 2 – “Học cách đặt mục tiêu”. Luận điểm này đi ngược lại, từ lí lẽ đến bằng chứng:

  • Trước hết nêu lí lẽ về vai trò của công nghệ với tương lai người trẻ, kèm số liệu của Diễn đàn Kinh tế Thế giới: 78,6% người được hỏi cho rằng công nghệ đang tạo ra chứ không phá hủy việc làm. Thêm một bằng chứng khác là khẩu hiệu Ngày Quốc tế Thanh thiếu niên năm 2020.
  • Sau đó là phần bình luận trọng tâm: mối nguy lớn hơn với người trẻ không phải đặt mục tiêu quá cao rồi không đạt được, mà là đặt mục tiêu quá thấp rồi đạt được nó. Từ đây tác giả bàn sang trách nhiệm của gia đình và nhà trường, dẫn thêm câu nói của Socrates.
  • Khép lại bằng hai bằng chứng nước ngoài: James Dyson mất năm năm và hơn 5000 mẫu thử trước khi cho ra đời chiếc máy hút bụi không túi; Michael Jordan từng bị chê quá thấp để chơi bóng rổ đỉnh cao.

Nhận xét chung: bằng chứng trong bài rất đa dạng – người Việt và người nước ngoài, người nổi tiếng và người bình thường, số liệu khảo sát và câu nói của danh nhân. Quan trọng hơn, không bằng chứng nào đứng trơ: mỗi trường hợp đều được dẫn ra để chứng minh hoặc làm bật một lí lẽ cụ thể.

Câu 3. Những thao tác nghị luận nào đã được phối hợp sử dụng?

Thao tác Biểu hiện trong bài
Giải thích Làm rõ bản chất và giá trị của tuổi trẻ trước khi bàn luận: tuổi trẻ là gì, giá trị của nó nằm ở đâu
Phân tích Chia tuổi trẻ thành nhiều mặt để xem xét: sức khỏe thể chất, sự tò mò, tinh thần mạo hiểm, khả năng thích ứng với công nghệ
Chứng minh Ba tấm gương người Việt, hai tấm gương nước ngoài, số liệu khảo sát
Bình luận Bàn về tiềm năng và thách thức của tuổi trẻ thời công nghệ; về thái độ thấu hiểu mà người đi trước cần có
Bác bỏ Phản bác định kiến cho rằng giới trẻ nghiện công nghệ, lười làm việc, chỉ thích vui chơi
So sánh Đối chiếu đặt mục tiêu quá cao với đặt mục tiêu quá thấp; “tuổi trẻ sống bằng hi vọng, tuổi già sống bằng kí ức”

IV. Các bước viết bài

1. Chuẩn bị viết

Chọn một đề tài liên quan đến cuộc sống của tuổi trẻ hiện nay: quan niệm sống, định hướng tương lai, việc học tập và rèn luyện, cách ứng xử trong các mối quan hệ. Có thể tìm đề tài từ sách báo, truyền thông, hoặc từ chính trải nghiệm của bản thân.

Một số đề tài gợi ý: Tác động của cách mạng công nghiệp 4.0 đến xu hướng chọn nghề của giới trẻ; Nhu cầu thưởng thức âm nhạc, phim ảnh của giới trẻ; Ý thức về giới của các bạn trẻ; Quyền được thử và sai lầm của giới trẻ; Sống theo sở thích cá nhân và sống để phụng sự xã hội.

2. Tìm ý

Ba câu hỏi, ứng với ba phần của thân bài:

Câu hỏi Nội dung cần làm Ở bài tham khảo
Cần giải thích điều gì? Làm rõ những khái niệm, câu chữ then chốt, nếu không sẽ bàn sai hướng Giải thích bản chất và các giá trị của tuổi trẻ trước khi nêu lí lẽ
Có khía cạnh nào cần bình luận? Đánh giá sự đúng đắn của vấn đề, hoặc nêu ý kiến khác với mình để bàn lại Bình luận về tiềm năng của tuổi trẻ, thách thức thời công nghệ, thái độ cần có của người đi trước
Cần định hướng hành động thế nào? Đề xuất phương hướng hành động sau khi đã nhận thức được vấn đề Nêu trách nhiệm của xã hội và những điều người trẻ cần làm

3. Lập dàn ý

Mở bài: Giới thiệu vấn đề liên quan đến tuổi trẻ và nêu rõ quan điểm của người viết.

Thân bài:

  • Giải thích từ ngữ, khái niệm để làm rõ bản chất vấn đề.
  • Trình bày các khía cạnh của vấn đề, trả lời những câu hỏi: Vì sao vấn đề này thiết yếu với tuổi trẻ? Vấn đề gợi ra suy nghĩ và hành động gì? Cần điều kiện gì để tuổi trẻ thực hiện được? Mỗi khía cạnh là một luận điểm, có lí lẽ và bằng chứng riêng.
  • Bình luận và bác bỏ: khẳng định sự đúng đắn, thiết thực của vấn đề; nêu ý kiến trái ngược và phản bác để củng cố quan điểm.
  • Định hướng hành động của bản thân sau khi nhận thức về vấn đề.

Kết bài: Khái quát ý nghĩa của vấn đề, liên hệ đời sống thực tại, rút ra bài học cho bản thân.

4. Viết

  • Bám sát dàn ý, đảm bảo mạch lạc và liên kết giữa các đoạn.
  • Phối hợp các thao tác nghị luận trong từng đoạn, đừng chỉ dùng một thao tác từ đầu đến cuối.
  • Có thể dùng yếu tố tự sự (kể một câu chuyện ngắn) và biểu cảm để tăng sức hấp dẫn – nhưng chỉ như chất liệu bổ trợ, không lấn át mạch nghị luận.

5. Chỉnh sửa

Ngoài lỗi chính tả và diễn đạt, hãy tự kiểm tra bốn điều:

  • Mở bài đã nêu rõ vấn đề và quan điểm của mình chưa?
  • Các luận điểm ở thân bài đã đủ chưa, có bị mất cân đối không (một luận điểm quá dài, một luận điểm chỉ vài dòng)?
  • Đã phối hợp được nhiều thao tác nghị luận chưa, đặc biệt là bác bỏ?
  • Kết bài đã liên hệ đời sống và nêu được phương hướng hành động chưa?

V. Bài văn mẫu

Đề bài: Suy nghĩ về quyền được thử và sai lầm của giới trẻ.

Mở bài

Có một câu hỏi mà gần như bạn trẻ nào cũng từng nghe: “Con đã suy nghĩ kĩ chưa?” Câu hỏi ấy xuất phát từ tình thương, nhưng đôi khi nó lại hàm chứa một thông điệp khác: rằng em không được phép chọn sai.

Trong một xã hội mà thành công được đo bằng những cột mốc rõ ràng và thất bại thường bị nhìn như một vết đen, tuổi trẻ dường như đang bị tước đi một quyền rất cơ bản – quyền được thử và được sai. Tôi cho rằng đây là quyền cần được trả lại, bởi không có nó thì không có sự trưởng thành thật sự.

Thân bài

1. Thế nào là “quyền được thử và sai lầm”?

“Quyền được thử” là quyền được tự mình lựa chọn và thử nghiệm điều mới: thử một ngành học, một công việc, một cách sống, hay đơn giản là thử bước ra khỏi vùng an toàn.

“Quyền được sai lầm” là quyền được vấp ngã mà không lập tức bị dán nhãn là kẻ thất bại, được làm sai mà vẫn còn cơ hội làm lại.

Cần phân biệt rõ: đây không phải quyền được vô trách nhiệm. Thử và sai luôn đi kèm việc chịu trách nhiệm về lựa chọn của mình. Về bản chất, đó là quyền tự nhiên của con người trong quá trình lớn lên. Không ai sinh ra đã biết đi. Đứa trẻ nào cũng ngã hàng trăm lần trước khi bước vững – vậy vì sao khi lớn hơn một chút, chúng ta lại bị đòi hỏi phải đúng ngay từ lần đầu?

2. Vì sao tuổi trẻ cần quyền này?

Thứ nhất, vì tuổi trẻ là giai đoạn đi tìm chính mình. Ở tuổi mười tám, rất ít người biết chắc mình hợp với điều gì. Sự hiểu biết ấy không đến từ suy nghĩ trong phòng kín, mà đến từ việc bắt tay vào làm rồi nhận ra: hóa ra mình không hợp. Một bạn học năm nhất phát hiện mình chọn nhầm ngành và chuyển hướng, thực chất đã học được một điều mà bốn năm ngồi đúng chỗ nhưng không suy nghĩ cũng không dạy được.

Thứ hai, vì sai lầm là loại bài học không có trong sách. Bài học về sự cẩn trọng, về giới hạn của bản thân, về cách đứng dậy – tất cả chỉ đến sau khi ta đã ngã. Người chưa từng sai thường cũng là người chưa từng thử điều gì đáng kể.

Thứ ba, vì hầu như không có thành tựu nào không đi qua thất bại. Trong bài viết Giá trị của tuổi trẻ, Giáo sư Nguyễn Lân Dũng kể về James Dyson – người đã mất năm năm và tạo ra hơn năm nghìn mẫu thử trước khi chiếc máy hút bụi không túi ra đời, rồi còn bị các nhà sản xuất trong nước từ chối. Michael Jordan thì từng bị chê là quá thấp để chơi bóng rổ đỉnh cao. Điểm chung của họ không phải là tài năng bẩm sinh, mà là họ được phép sai đủ nhiều lần.

3. Nhưng thực tế thì sao?

Ở nhiều gia đình, quyền ấy vẫn chưa được trao. Cha mẹ vì lo lắng mà quyết định thay con: học trường nào, thi ngành gì, làm nghề gì. Sự bảo bọc ấy xuất phát từ tình thương, nhưng nó lấy đi của con cơ hội tự chịu trách nhiệm – mà đó lại chính là điều làm nên sự trưởng thành.

Ở trường học, khi kết quả chủ yếu được đo bằng điểm số, học sinh dần hình thành tâm lí sợ sai: không dám phát biểu vì sợ nói nhầm, không dám làm khác vì sợ bị trừ điểm.

Hệ quả là một thế hệ có xu hướng chọn phương án an toàn thay vì phương án mình thật sự muốn. Và nghịch lí là: chọn an toàn để tránh rủi ro, nhưng lại chấp nhận một rủi ro lớn hơn nhiều – rủi ro sống cả đời với câu “giá như”.

4. Có thật là nên để tuổi trẻ tự do thử và sai?

Sẽ có người phản đối: người trẻ còn non nớt, thiếu kinh nghiệm, nếu để tự quyết thì rất dễ đi sai đường, và cái giá phải trả có khi là cả tương lai.

Đây là một lo lắng chính đáng, nhưng theo tôi nó dựa trên một sự nhầm lẫn. Trao quyền được thử không đồng nghĩa với buông mặc. Người lớn vẫn giữ vai trò rất quan trọng: chia sẻ kinh nghiệm, phân tích hệ quả, giúp người trẻ nhìn vấn đề nhiều chiều. Nhưng hướng dẫn khác với áp đặt, đồng hành khác với kiểm soát. Điều người trẻ cần không phải là một quyết định làm sẵn, mà là đủ thông tin để tự quyết định.

Hơn nữa, cần phân biệt hai loại sai lầm. Có những sai lầm sửa được – chọn nhầm ngành, khởi nghiệp thất bại, làm hỏng một dự án. Và có những sai lầm không sửa được – những việc gây tổn hại đến sức khỏe, nhân cách, hoặc người khác. Quyền được thử và sai chỉ nói đến loại thứ nhất. Ranh giới ấy cần được nói rõ, thay vì lấy loại thứ hai ra để cấm đoán cả loại thứ nhất.

5. Vậy cần làm gì?

Với gia đình và nhà trường, điều cần thay đổi có lẽ không phải là cho phép nhiều hơn, mà là thay đổi phản ứng khi người trẻ thất bại. Một câu hỏi “Con học được gì từ chuyện này?” có sức nâng đỡ hơn nhiều so với câu “Đã bảo rồi mà không nghe”.

Còn với chính chúng ta – những người trẻ – quyền này chỉ có ý nghĩa khi đi kèm hai điều. Một là dám nhận trách nhiệm: đã tự chọn thì không đổ lỗi cho hoàn cảnh khi kết quả không như ý. Hai là biết rút kinh nghiệm: một sai lầm được nhìn lại nghiêm túc là bài học, còn một sai lầm lặp lại nhiều lần thì chỉ là thói quen.

Kết bài

Tuổi trẻ không phải là quãng thời gian để làm đúng mọi thứ. Đó là quãng thời gian để tìm ra mình là ai – và việc tìm kiếm ấy, tự nó, đã bao hàm cả những lần đi nhầm đường.

Nếu được nói với các bạn cùng tuổi mình một điều, tôi sẽ nói: đừng để nỗi sợ sai giữ chân bạn ở một chỗ an toàn mà bạn không hề muốn ở. Hãy thử điều mình tin, chịu trách nhiệm với nó, và nếu ngã thì đứng dậy mà đi tiếp. Bởi điều đáng tiếc nhất của tuổi trẻ không phải là đã từng sai, mà là chưa từng dám thử.

ThS. Nguyễn Thành Đạt

ThS. Nguyễn Thành Đạt

(Người kiểm duyệt, ra đề)

Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Ngữ Văn THPT

Trình độ: Thạc sĩ Ngữ Văn, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ CNTT, Ngoại ngữ B1

Kinh nghiệm: 10+ năm kinh nghiệm tại Trường THPT Hoàng Thế Thiện