Chọn đến phần học sinh cần nhanh chóng thông qua mục lục bằng cách click đến phần đó
I. Kiểu bài và yêu cầu cần đạt
So sánh hai tác phẩm không phải để xem tác phẩm nào hay hơn, mà để làm rõ một quy luật chung của văn học hoặc nhìn sâu hơn giá trị riêng của từng tác phẩm. Đặt cạnh nhau, những nét đặc sắc mà khi đọc riêng lẻ ta dễ bỏ qua sẽ tự hiện ra.
Năm yêu cầu của kiểu bài:
- Nêu được mục đích và cơ sở của việc so sánh, đánh giá hai tác phẩm.
- Trình bày được các thông tin khái quát về hai tác phẩm.
- Làm rõ những điểm tương đồng và khác biệt trên một số phương diện nội dung, hình thức cụ thể, theo mục đích và phạm vi đã xác định.
- Rút ra những nhận xét, đánh giá phù hợp, căn cứ vào kết quả so sánh.
- Nêu được ý nghĩa của việc đánh giá hai tác phẩm thông qua so sánh.
Phân biệt cơ sở và mục đích
| Trả lời câu hỏi | Ví dụ | |
|---|---|---|
| Cơ sở so sánh | Vì sao hai tác phẩm này có thể đặt cạnh nhau? | Cùng đề tài, cùng giai đoạn, cùng kiểu nhân vật, cùng khuynh hướng, hoặc tác giả này chịu ảnh hưởng tác giả kia |
| Mục đích so sánh | So sánh để làm sáng tỏ điều gì? | Làm rõ sự thống nhất của một khuynh hướng sáng tác, hoặc làm nổi bật cá tính riêng của mỗi nhà văn |
Trong bài viết cụ thể, không nhất thiết phải nêu cơ sở trước mục đích – có thể linh hoạt sắp xếp.
Nguyên tắc quan trọng: bài viết có thể ưu tiên nhấn mạnh sự tương đồng hoặc tập trung vào sự khác biệt. Nhưng dù theo hướng nào, khi nói về tương đồng vẫn phải đề cập khác biệt, và ngược lại – vì chính sự tương đồng là lí do khiến hai tác phẩm được đặt cạnh nhau.
II. Trả lời câu hỏi về bài viết tham khảo
Bài viết tham khảo trong SGK so sánh Mảnh trăng cuối rừng (Nguyễn Minh Châu) và Những đứa con trong gia đình (Nguyễn Thi).
Câu 1. Cơ sở của việc lựa chọn so sánh hai tác phẩm là gì?
Ba điểm khiến hai tác phẩm này có thể đặt cạnh nhau:
- Cùng viết về đề tài chiến tranh, cùng ra đời trong khoảng nửa cuối thập niên 1960, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ bước vào giai đoạn quyết liệt.
- Cùng mang ý nghĩa đại diện cho cách tiếp cận hiện thực chiến tranh của văn học một thời – đây là hai truyện ngắn mà giới phê bình thường nhắc đến đầu tiên khi nói về thành tựu truyện ngắn cách mạng giai đoạn 1954 – 1975.
- Hai tác giả đều có vị trí nổi bật trong đội ngũ nhà văn chiến sĩ.
Câu 2. Tác giả bài viết đã xác định mục đích so sánh như thế nào?
Mục đích được nêu rất rõ ngay ở đoạn thứ hai, gồm hai vế:
- Làm rõ sự thống nhất trong cảm hứng sáng tác của các nhà văn cách mạng khi cùng viết về một đề tài.
- Đồng thời chỉ ra cách mỗi nhà văn vẫn thể hiện được phong cách cá nhân độc đáo – điều không dễ làm trong bối cảnh mọi sáng tác đều phải mang tính định hướng cao và được “chuốt nhọn thành vũ khí”.
Hai vế này chi phối toàn bộ bố cục bài viết: phần giữa nói về nét chung, phần sau nói về nét riêng.
Câu 3. Các phương diện cơ bản nào đã được đưa ra so sánh?
Trước khi so sánh, bài viết cung cấp thông tin khái quát về từng tác phẩm: xuất xứ, bối cảnh câu chuyện, ngôi kể, cốt truyện, nhân vật.
Về điểm tương đồng, bài viết so sánh trên hai phương diện:
- Kiểu nhân vật và cảm hứng sáng tác: nhân vật nào cũng tràn đầy tinh thần cách mạng, hành động diễn ra tự nhiên, không có dấu vết của sự ưu tư lựa chọn, vì đều tuân theo một đạo lí sống mà cả cộng đồng thừa nhận.
- Cách miêu tả hiện thực chiến tranh: cả hai đều không né tránh sự tàn khốc, nhưng điều đọng lại ở người đọc vẫn là cảm giác tin yêu, ấm áp nhờ những hình ảnh giàu chất thơ. Từ đó rút ra kết luận chung: cả hai tác phẩm đều thấm đẫm tính sử thi và cảm hứng lãng mạn.
Về điểm khác biệt, bài viết so sánh trên phương diện cách tổ chức tác phẩm và bút pháp:
| Mảnh trăng cuối rừng | Những đứa con trong gia đình | |
|---|---|---|
| Cách tổ chức | Nghiêng về kiểu luận đề; nhân vật trực tiếp nói những lời mang màu sắc chính luận | Chọn lọc chi tiết đậm tính hiện thực (cuốn sổ gia đình, bàn thờ má, đối thoại trẻ con) để người đọc tự nghiệm ra |
| Dụng công nghệ thuật | Chăm chút tình huống truyện; đặt tên nhân vật có dụng ý (Tính, Lãm, Nguyệt, “Nguyệt lão”) | Tái hiện đậm nét cảnh sắc và con người miền Tây Nam Bộ |
| Mạch kể | Truyện “khung” ngôi thứ ba lồng câu chuyện chính ngôi thứ nhất | Không kể tuyến tính mà theo dòng hồi ức đứt nối của Việt; dùng bút pháp dòng ý thức và thủ pháp đồng hiện |
Câu 4. Đánh giá nào về đặc điểm, giá trị của từng tác phẩm được nảy sinh trên cơ sở so sánh?
Ba đánh giá, và điều đáng chú ý là cả ba đều chỉ có thể rút ra khi đặt hai tác phẩm cạnh nhau:
- Cả hai đều mang dấu ấn thời đại rõ nét, tiêu biểu cho một cách tiếp cận hiện thực của văn học cách mạng.
- Phong cách thời đại không lấn át được cá tính sáng tạo của mỗi nhà văn. Điều này nói lên sự đa dạng nhất định của một nền văn học hướng về nhân dân – nhận định này không thể có nếu chỉ đọc một tác phẩm.
- Về giá trị lâu dài: hôm nay các nhà văn có thể viết về chiến tranh bằng những phương thức mới mẻ hơn, nhưng những tác phẩm ra đời trong khói lửa vẫn có vẻ đẹp riêng, bởi ở thời điểm đó chúng đã tìm được sự đồng vọng sâu sắc trong lòng biết bao con người. Đây cũng là gợi mở về cách nhìn nhận phù hợp đối với văn học của một giai đoạn đã qua.
III. Các bước viết bài
1. Chuẩn bị viết
Chọn tác phẩm: nên chọn hai truyện có điểm chung rõ và ít nhất một truyện đã được học. Hai truyện có thể của cùng một tác giả hoặc hai tác giả, cùng thời kì hoặc hai thời kì cách biệt, cùng một nền văn học hoặc hai nền văn học khác nhau.
Một số cặp tác phẩm gợi ý: Hoàng tử bé (Saint-Exupéry) và Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ (Nguyễn Ngọc Thuần); Những ngày thơ ấu (Nguyên Hồng) và Thời thơ ấu (M. Gorky); Chí Phèo và Lão Hạc (Nam Cao); Vợ nhặt (Kim Lân) và Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài).
Xác lập cơ sở so sánh bằng hai câu hỏi: Hai tác phẩm có phải là những “mẫu” tiêu biểu, cho phép việc so sánh đạt kết quả cần thiết không? Chúng có điểm gì khiến người đọc dễ liên hệ với nhau?
2. Tìm ý
Năm câu hỏi tìm ý, mỗi câu ứng với một phần của bài:
| Câu hỏi | Dùng cho phần nào |
|---|---|
| Vì sao đọc truyện này lại liên hệ đến truyện kia? | Cơ sở so sánh → mở bài |
| Sự tương đồng thể hiện trên những phương diện chủ yếu nào? | Chọn phạm vi so sánh |
| Điều gì dẫn đến sự “gặp gỡ” đó? | Lí giải nguyên nhân tương đồng |
| Sự khác biệt giữa hai truyện là gì? | Tìm nét độc đáo của từng tác phẩm |
| Việc so sánh đưa lại khám phá mới nào? | Ý nghĩa → kết bài |
3. Lập dàn ý
Mở bài: Giới thiệu hai tác phẩm; nêu mục đích và cơ sở của việc so sánh.
Thân bài:
- Thông tin chung về từng tác phẩm: hoàn cảnh ra đời, đề tài, chủ đề, cốt truyện, nhân vật, vị trí trong đời sống văn học.
- Những điểm tương đồng và nguyên nhân (cùng đề cập một loại hiện tượng đời sống hay một loại hình nhân vật; hai tác giả có cùng quan điểm thẩm mĩ; tác giả này chịu ảnh hưởng tác giả kia…).
- Những điểm khác biệt và điều kiện làm nên sự khác biệt (cá tính sáng tạo riêng; ảnh hưởng từ những truyền thống văn hóa khác nhau; đối tượng được miêu tả có điểm đặc thù…).
- Đánh giá chung và khẳng định giá trị độc đáo của mỗi tác phẩm.
Kết bài: Nêu ý nghĩa của việc đánh giá hai tác phẩm khi đặt trong tương quan so sánh.
4. Viết
- Khai thác bằng chứng từ nhiều phương diện: đề tài, chủ đề, cảm hứng, cốt truyện, nhân vật, ngôn ngữ, giọng điệu.
- Trích dẫn văn bản truyện hay ý kiến phê bình phải chính xác, khách quan.
- Tránh lắp ghép máy móc: bài viết không được trở thành hai “bài” nhỏ phân tích riêng từng tác phẩm rồi ghép lại.
- Chú ý mạch lạc, liên kết; ngắt đoạn hợp lí để người đọc dễ theo dõi hệ thống luận điểm.
5. Chỉnh sửa
Đối chiếu với yêu cầu kiểu bài và dàn ý đã lập. Kiểm tra kĩ xem mỗi luận điểm đã thực sự đối chiếu hai tác phẩm hay mới chỉ nói về một tác phẩm. Rà lại lỗi chính tả, diễn đạt, trình bày.
IV. Bài văn mẫu
Đề bài: So sánh, đánh giá hai truyện ngắn Vợ nhặt (Kim Lân) và Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài).
Mở bài
Văn học Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975 đã để lại nhiều tác phẩm xuất sắc viết về số phận con người trong xã hội cũ và hành trình họ vươn lên tìm tự do, hạnh phúc. Vợ nhặt của Kim Lân và Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài là hai tác phẩm tiêu biểu, cùng hướng ngòi bút vào thân phận người phụ nữ nghèo khổ.
Cơ sở để đặt hai truyện cạnh nhau chính là sự gặp gỡ ấy: cùng một kiểu nhân vật, cùng một cảm hứng nhân đạo, cùng ra đời trong không khí của nền văn học cách mạng. Còn mục đích của bài viết này là qua so sánh để thấy hai điều: sự thống nhất trong cái nhìn về con người của hai nhà văn, và nét riêng không thể trộn lẫn trong phong cách của mỗi người.
Thân bài
1. Thông tin khái quát về hai tác phẩm
Vợ nhặt có tiền thân là tiểu thuyết Xóm ngụ cư, được Kim Lân viết ngay sau Cách mạng tháng Tám nhưng còn dang dở và bị mất bản thảo. Sau hòa bình lập lại, nhà văn dựa vào một phần cốt truyện cũ để viết lại thành truyện ngắn, in trong tập Con chó xấu xí (1962). Tác phẩm lấy bối cảnh nạn đói năm 1945, kể chuyện Tràng – người đàn ông nghèo, xấu xí ở xóm ngụ cư – bỗng “nhặt” được vợ giữa những ngày đói kém.
Vợ chồng A Phủ được Tô Hoài sáng tác năm 1952, in trong tập Truyện Tây Bắc (1953), tập truyện sau đó được tặng giải Nhất Giải thưởng Hội Văn nghệ Việt Nam 1954 – 1955. Truyện kể về Mị, cô gái Mông xinh đẹp bị bắt về làm con dâu gạt nợ nhà thống lí Pá Tra, và A Phủ, chàng trai khỏe mạnh bị bắt làm nô lệ trừ nợ. Hai con người cùng cảnh ngộ đã cứu nhau chạy khỏi Hồng Ngài, về sau thành vợ chồng và đi theo cách mạng.
2. Những điểm tương đồng
Thứ nhất, cả hai đều hướng ngòi bút vào thân phận người phụ nữ bị đẩy đến bước đường cùng. Thị trong Vợ nhặt là người đàn bà không tên, không quê quán, đói đến mức theo không một người đàn ông xa lạ chỉ vì mấy bát bánh đúc. Mị trong Vợ chồng A Phủ bị món nợ truyền kiếp biến thành con dâu gạt nợ, sống kiếp trâu ngựa trong nhà thống lí. Hai hoàn cảnh khác nhau nhưng bản chất giống nhau: con người bị hoàn cảnh tước mất quyền được sống như một con người.
Thứ hai, cả hai nhà văn đều tin vào sức sống tiềm tàng của nhân vật. Điều đáng nói là cả hai đều chọn cách để sức sống ấy hồi sinh từ những điều rất nhỏ. Với thị, đó là một mái nhà: sáng hôm sau, người đàn bà chao chát chỏng lỏn hôm qua đã thành một người vợ “hiền hậu đúng mực”. Với Mị, đó là tiếng sáo gọi bạn tình đêm xuân khiến lòng cô “phơi phới trở lại”. Cả hai nhà văn đều không để nhân vật thay đổi nhờ một biến cố lớn lao, mà nhờ chính những rung động đời thường nhất.
Thứ ba, cả hai truyện đều kết thúc bằng hình ảnh hướng về tương lai. Vợ nhặt khép lại với hình ảnh đoàn người đói và lá cờ đỏ hiện lên trong óc Tràng. Vợ chồng A Phủ đưa Mị và A Phủ ra khỏi Hồng Ngài, rồi ở phần sau của truyện, họ trở thành du kích. Đây là dấu ấn chung của văn học cách mạng: nhà văn không chỉ nói về nỗi khổ mà còn phải chỉ ra lối thoát.
Nguyên nhân của sự gặp gỡ: cả Kim Lân và Tô Hoài đều kế thừa truyền thống nhân đạo của văn học hiện thực trước 1945, rồi cùng tiếp nhận ánh sáng cách mạng, nên đều nhìn người lao động bằng con mắt vừa xót thương vừa tin tưởng. Thêm nữa, cả hai đều viết về vùng đất mà mình gắn bó máu thịt – điều kiện để họ hiểu nhân vật từ bên trong chứ không quan sát từ xa.
3. Những điểm khác biệt
Thứ nhất, khác biệt về không gian nghệ thuật. Vợ nhặt đặt trong không gian nông thôn đồng bằng Bắc Bộ giữa nạn đói, một không gian ngột ngạt vì cái chết cận kề nhưng vẫn quen thuộc. Vợ chồng A Phủ đặt trong không gian miền núi Tây Bắc với phong tục, tập quán riêng của người Mông, một không gian xa lạ và bị vây bọc bởi cường quyền lẫn thần quyền – điều làm nên tính chất riêng cho bi kịch của Mị.
Thứ hai, khác biệt về cách xây dựng nhân vật nữ. Thị được miêu tả chủ yếu từ bên ngoài, qua dáng vẻ và lời nói: quần áo tả tơi, gầy sọp, “cong cớn”, “sưng sỉa”. Người đọc hiểu thị qua hành động chứ không được vào trong ý nghĩ của thị. Mị thì ngược lại, được khắc họa chủ yếu từ bên trong: Tô Hoài dành nhiều trang để lần theo dòng ý nghĩ và cảm giác của nhân vật, từ trạng thái tê liệt “lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa” đến những đợt sóng ngầm trong đêm tình mùa xuân và đêm đông cởi trói.
Thứ ba, khác biệt về giọng điệu và ngôn ngữ. Kim Lân kể bằng giọng hóm hỉnh mà chua xót, ngôn ngữ đậm khẩu ngữ nông thôn Bắc Bộ, đối thoại sống động và rất “có duyên”. Tô Hoài kể bằng giọng trữ tình, đằm thắm, câu văn giàu hình ảnh và âm thanh, thấm đẫm phong vị núi rừng.
Thứ tư, khác biệt về kết cấu. Vợ nhặt dồn nén trong khoảng một ngày một đêm, xoay quanh một sự kiện duy nhất, nên sức nặng dồn cả vào tình huống truyện. Vợ chồng A Phủ trải dài theo cuộc đời nhân vật với nhiều biến cố, nên sức nặng nằm ở quá trình vận động của tâm lí.
Nguyên nhân của sự khác biệt: mỗi nhà văn có một vốn sống và một cá tính sáng tạo riêng. Kim Lân là nhà văn của làng quê Bắc Bộ, viết bằng thứ ngôn ngữ ông đã sống cùng từ nhỏ. Tô Hoài đến với Tây Bắc qua chuyến đi thực tế dài cùng bộ đội năm 1952, đến với tư cách một người quan sát bị chinh phục, nên trang văn của ông giàu chất thơ và đậm màu sắc phong tục.
4. Đánh giá
Đặt cạnh nhau, hai tác phẩm cho thấy một điểm chung của văn học Việt Nam giai đoạn này: nhà văn đứng hẳn về phía người nghèo khổ để đòi quyền sống cho họ, và luôn tin rằng sức sống của con người không thể bị hoàn cảnh dập tắt.
Nhưng chính sự so sánh cũng làm lộ rõ giá trị không thể thay thế của từng tác phẩm. Vợ nhặt mạnh ở tình huống truyện – chỉ một sự việc éo le mà bật ra được cả một quan niệm về con người. Vợ chồng A Phủ mạnh ở nghệ thuật miêu tả tâm lí – sức sống của Mị không bừng lên trong một khoảnh khắc mà được nhà văn theo dõi qua cả một quá trình dài.
Điều thú vị là hai thế mạnh ấy gần như bù trừ cho nhau. Nếu chỉ đọc riêng Vợ nhặt, ta khó thấy hết rằng cách kể dồn nén là một lựa chọn nghệ thuật chứ không phải sự đơn giản; và nếu chỉ đọc riêng Vợ chồng A Phủ, ta cũng khó nhận ra sức mạnh riêng của lối viết cô đọng.
Kết bài
Việc đặt Vợ nhặt và Vợ chồng A Phủ trong tương quan so sánh cho thấy: cùng một cảm hứng nhân đạo, cùng một niềm tin vào con người, nhưng mỗi nhà văn lại tìm được một con đường nghệ thuật riêng để nói điều đó. Đây chính là ý nghĩa của việc so sánh – nó không xếp hạng tác phẩm, mà giúp ta hiểu rằng một nền văn học chỉ thực sự giàu có khi các nhà văn cùng hướng về một lí tưởng mà vẫn giữ được tiếng nói riêng của mình.

ThS. Nguyễn Thành Đạt
(Người kiểm duyệt, ra đề)
Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Ngữ Văn THPT
Trình độ: Thạc sĩ Ngữ Văn, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ CNTT, Ngoại ngữ B1
Kinh nghiệm: 10+ năm kinh nghiệm tại Trường THPT Hoàng Thế Thiện

