Chọn đến phần học sinh cần nhanh chóng thông qua mục lục bằng cách click đến phần đó
I. Kiểu bài và yêu cầu cần đạt
Trong lịch sử văn học, hiện tượng người sáng tác vay mượn một số yếu tố của những tác phẩm ra đời trước đó để làm nên tác phẩm mới là rất phổ biến – đặc biệt là vay mượn từ văn học dân gian, vốn được xem là cội nguồn của văn học viết.
Điều quan trọng cần nắm: vay mượn không đồng nghĩa với “bê nguyên xi”. Vay mượn luôn đi kèm cải biến và sáng tạo, để chất liệu cũ giúp người viết thể hiện được cảm quan nghệ thuật mới của mình. Viết kiểu bài này sẽ giúp em nhìn tác phẩm như sản phẩm của sự kế thừa, giao thoa và sáng tạo không ngừng trong đời sống văn học.
Bốn yêu cầu của kiểu bài:
- Giới thiệu chung về tác phẩm được lựa chọn và mối quan hệ giữa nó với tác phẩm mà nó chịu ảnh hưởng.
- Chỉ ra và phân tích các phương diện tiếp nhận, chịu ảnh hưởng trong tác phẩm.
- Chỉ ra và phân tích những điểm cách tân, sáng tạo của tác giả khi tiếp nhận ảnh hưởng ấy.
- Đánh giá giá trị của tác phẩm xét trên phương diện tiếp nhận và sáng tạo, dựa vào dẫn chứng cụ thể.
II. Ba khái niệm và các phương diện cần khảo sát
Vay mượn là việc tiếp nhận, sử dụng những yếu tố có sẵn từ tác phẩm trước làm chất liệu. Cải biến là làm thay đổi những yếu tố ấy cho phù hợp với ý đồ nghệ thuật mới. Sáng tạo là tạo ra giá trị mới trên nền chất liệu đã vay mượn và cải biến. Ba khâu nối nhau: vay mượn là điểm xuất phát, cải biến là quá trình, sáng tạo là đích đến và cũng là thước đo giá trị.
Mẫu gốc là thuật ngữ chỉ nguyên mẫu, nguồn trực tiếp mà các sáng tạo về sau khai thác với những biến đổi riêng.
Các phương diện thường được vay mượn và cải biến:
| Phương diện | Câu hỏi khảo sát |
|---|---|
| Cốt truyện, sự kiện | Giữ lại những sự kiện nào? Thêm, bớt, đảo trật tự ra sao? |
| Nhân vật | Nhân vật nào được giữ, ai trở thành trung tâm? Tính cách thay đổi thế nào? |
| Chủ đề, tư tưởng | Tác phẩm mới nói về điều gì khác với mẫu gốc? |
| Mô típ, yếu tố kì ảo | Được giữ nguyên hay đổi chức năng? |
| Thể loại | Có chuyển từ thể loại này sang thể loại khác không? |
| Ngôn ngữ, giọng điệu | Lời văn, giọng kể mang dấu ấn riêng gì? |
| Điển cố | Được dùng đúng nghĩa gốc hay đã được làm mới? |
III. Trả lời câu hỏi về bài viết tham khảo
Bài viết tham khảo là Mẫu gốc Sơn Tinh, Thủy Tinh và sáng tạo của Hòa Vang trong truyện ngắn “Sự tích những ngày đẹp trời” của Nguyễn Thị Nương.
Câu 1. Hòa Vang đã kế thừa và làm biến đổi những phương diện cơ bản nào của mẫu gốc?
Những gì được kế thừa: nhà văn vẫn dựa trên nền cơ bản của cốt truyện cũ, không thay đổi những chi tiết, sự kiện đã hằn sâu trong tâm thức bao thế hệ – Vua Hùng kén rể, lễ vật thách cưới, Sơn Tinh cưới được Mị Nương, Thủy Tinh dâng nước. Hệ thống nhân vật và không khí thần thoại cũng được giữ lại.
Những gì được biến đổi, theo bài viết, gồm ba phương diện lớn:
- Chủ đề: từ chỗ ca ngợi người anh hùng trị thủy và lí giải nạn lũ lụt, tác phẩm chuyển hẳn sang một chủ đề mới – khám phá vẻ đẹp bí ẩn của tình yêu và sự phong phú, phức tạp của tâm hồn con người.
- Cốt truyện: từ chủ đề mới, nhà văn dựng nên hàng loạt xung đột chưa từng có (Thủy Tinh với Vua Hùng, Thủy Tinh với đám thuộc hạ, bổn phận với khát vọng trong lòng Mị Nương), đồng thời lược bỏ hoàn toàn mâu thuẫn Sơn Tinh – Thủy Tinh vốn là trung tâm của mẫu gốc. Chi tiết thách cưới được chọn làm đầu mối cho toàn bộ hệ thống xung đột.
- Nhân vật: hình tượng trung tâm không còn là Sơn Tinh mà là cặp Thủy Tinh – Mị Nương; tính cách các nhân vật đều được khắc họa “con người hơn”.
Ngoài ra còn có sự biến đổi về ngôn ngữ và giọng điệu: lời kể giàu chất thơ, nhiều vần điệu, giọng kể vang lên với nhiều cung bậc khác nhau ứng với từng nhân vật.
Câu 2. Tác giả bài viết đã có những phát hiện mới mẻ nào khi bàn về sự biến đổi của nhân vật?
Với nhân vật Thủy Tinh, có hai phát hiện đáng chú ý:
- Nhân vật đã “thoát xác” hoàn toàn khỏi hình vóc cũ. Từ chỗ là ẩn dụ cho sức tàn phá của lũ lụt, Thủy Tinh trở thành hình tượng người tình lí tưởng: đẹp và buồn, cường tráng mà hào hoa. Điều tinh tế là người viết không dừng ở việc ghi nhận sự thay đổi, mà chỉ ra nghịch lí của nó: sự thay đổi trái ngược hẳn cách hình dung truyền thống mà vẫn tự nhiên, thuyết phục. Cách lí giải cũng thuyết phục: bởi nhân vật đã được đặt vào lĩnh vực tình yêu, nơi sự phức tạp và bất ngờ vốn mặc nhiên tồn tại.
- Phát hiện thứ hai sâu hơn: sức mạnh của Thủy Tinh được đo bằng khả năng kiềm chế. Chàng thừa sức biến núi Tản, Phong Châu thành biển nước, nhưng chưa bao giờ có mặt trong những cuộc báo thù, vì sợ mất đi chính nỗi nhớ thương của mình. Với chàng, được nhớ thương – thậm chí đau khổ vì thương nhớ – cũng đã là hạnh phúc.
Với nhân vật Mị Nương, phát hiện nằm ở chỗ tác giả bài viết nhận ra Mị Nương trong mẫu gốc chỉ là một “nguyên cớ đẹp” dẫn đến cuộc giao tranh, còn ở Hòa Vang, nàng trở thành một hình tượng có đời sống nội tâm riêng. Điều mới mẻ nhất là người viết chỉ ra sự tồn tại song song trong tâm hồn nàng: vừa giữ trọn khuôn phép làm con, làm vợ, vừa ấp ủ “chút riêng nhỏ âm thầm” mà cả Sơn Tinh cũng không thấu hết. Nàng yêu nhưng chưa từng có ý nghĩ vượt qua một ranh giới nào – và chính điều đó khiến hình tượng vừa hiện đại vừa không xa lạ với người con gái Việt xưa.
Người viết cũng phát hiện một thủ pháp tinh tế: Hòa Vang đã mượn nỗi nhớ nhà muôn thuở của người con gái lấy chồng xa để mở ra thế giới tâm hồn phong phú của nhân vật.
Câu 3. Nhận xét về cách đánh giá của tác giả bài viết đối với những điểm sáng tạo trong việc biến đổi các yếu tố kì ảo.
Cách đánh giá có ba đặc điểm đáng học:
- Luôn đặt trong thế đối sánh. Mỗi sáng tạo của Hòa Vang đều được đối chiếu với mẫu gốc, và còn được so với cả những tác phẩm khác cùng khai thác mẫu gốc ấy – nhờ vậy mới thấy đâu là điểm thực sự mới.
- Không tuyệt đối hóa, mà lí giải tính hợp lí. Người viết không chỉ khen “sáng tạo độc đáo” mà luôn chỉ ra vì sao sự biến đổi ấy vẫn tự nhiên, thuyết phục, không phá vỡ mạch cảm nhận của người đọc về câu chuyện xưa.
- Chỉ ra sự đổi chức năng của yếu tố kì ảo. Yếu tố kì ảo không bị loại bỏ mà được chuyển vai: từ chỗ dùng để giải thích hiện tượng tự nhiên, nay dùng để diễn tả đời sống tình cảm – những hạt mưa Thủy Tinh trong vắt bên khuôn cửa sổ, tiếng sóng rì rầm vọng trong vách gỗ lâu đài Thần Núi, ngọn Hòa Tâm giữ cho đại dương trong sạch.
Đánh giá luôn gắn với dẫn chứng cụ thể, đồng thời không giấu cảm nhận riêng – như khi người viết gọi trang văn Mị Nương tìm về với Biển là trang “đậm chất cổ tích nhất mà cũng hiện đại nhất”.
Câu 4. Thu hoạch về kĩ năng viết kiểu bài này.
Năm điều rút ra được từ bài viết tham khảo:
- Phải nắm chắc cả hai văn bản. Không đọc kĩ mẫu gốc thì không thể biết đâu là chỗ tác giả sau đã thay đổi.
- Tổ chức luận điểm theo phương diện, không theo trình tự diễn biến truyện. Bài tham khảo chia thành các mục rõ: biến đổi chủ đề và cốt truyện, biến đổi nhân vật, rồi ngôn ngữ nghệ thuật.
- Luôn đối sánh liên tục, không tách thành hai phần rời – nói về mẫu gốc trước, tác phẩm mới sau.
- Đánh giá phải kèm lí giải. Chỉ ra chỗ khác thôi chưa đủ; phải trả lời được: vì sao tác giả thay đổi như vậy, và sự thay đổi ấy đem lại hiệu quả gì.
- Dùng từ ngữ thận trọng, khách quan khi bàn về mức độ vay mượn – tránh những lời khen chê cực đoan.
IV. Các bước viết bài
1. Chuẩn bị viết
Chọn một tác phẩm có biểu hiện tương đối rõ sự vay mượn – cải biến – sáng tạo so với tác phẩm có trước. Ba hướng đề tài SGK gợi ý:
- Tác phẩm văn học viết vay mượn cốt truyện, nhân vật, hình tượng từ một tác phẩm văn học dân gian.
- Tác phẩm văn học Việt Nam chịu ảnh hưởng của tác phẩm văn học nước ngoài.
- Một trường hợp sử dụng điển cố độc đáo.
Lập biểu khảo sát để sắp xếp dẫn chứng trước khi viết – đây là bước SGK nhấn mạnh và cũng là bước tiết kiệm công sức nhất:
| Phương diện | Ở mẫu gốc | Ở tác phẩm mới | Mức độ biến đổi |
|---|---|---|---|
| Cốt truyện | |||
| Nhân vật trung tâm | |||
| Chủ đề | |||
| Thể loại, ngôn ngữ |
Cuối cùng, xác định phạm vi và trọng tâm bài viết, rồi đặt nhan đề cho bài của mình.
2. Tìm ý
- Có những thông tin nổi bật gì cần giới thiệu về tác phẩm “nguồn” và tác phẩm chịu ảnh hưởng?
- Sự tiếp nhận có ý thức thể hiện rõ ở những phương diện nào? Phương diện nào cần đặc biệt nhấn mạnh?
- Em nhận diện sự vay mượn dựa trên cơ sở nào?
- Tác dụng, ý nghĩa của sự cải biến, cách tân là gì?
- Nên đánh giá mức độ, phạm vi, tính chất của sự vay mượn thế nào cho thỏa đáng?
3. Lập dàn ý
Mở bài: Giới thiệu ngắn gọn tác giả, tác phẩm và trọng tâm vấn đề mà bài viết bàn luận.
Thân bài:
- Nhận diện phạm vi, tính chất của việc tiếp nhận, chịu ảnh hưởng.
- Phân tích, đánh giá sự vay mượn trên các phương diện cụ thể.
- Phân tích, đánh giá những điểm cải biến, sáng tạo.
Kết bài: Ý nghĩa của việc tìm hiểu sự vay mượn và cải biến trong tác phẩm; đánh giá chung và hướng khám phá tiếp theo.
Lưu ý về cách sắp xếp: hệ thống ý cần linh hoạt. Ngoài trình tự “vay mượn → cải biến” như trên, có thể sắp xếp theo mức độ biến đổi: những phương diện chỉ vay mượn mà không cải biến → những phương diện vay mượn nhưng cải biến một phần → những phương diện vay mượn hình thức nhưng cải biến hoàn toàn về nội dung. Cách này làm nổi bật rõ hơn quá trình chuyển hóa từ cái cũ sang cái mới.
4. Viết
- Chú ý cân đối dung lượng: ý chính (vay mượn – cải biến) phải dài hơn các ý phụ.
- Dẫn chứng gắn với từng luận điểm phải rõ ràng, xác đáng; trích dẫn ý kiến từ tài liệu tham khảo phải ghi nguồn đúng quy định.
- Lựa chọn từ ngữ thích hợp, nhất là hệ thống từ ngữ so sánh, đánh giá: kế thừa, giữ nguyên, lược bỏ, thay thế, chuyển hướng, nâng lên thành…
5. Chỉnh sửa
Kiểm tra tính logic của mạch ý, tính hợp lí của dẫn chứng, và đặc biệt là sự khách quan khi bàn về mức độ vay mượn và sáng tạo. Sau đó mới soát lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp và sự liên kết giữa các đoạn.
V. Bài văn mẫu
Đề bài: Truyện Kiều của Nguyễn Du là trường hợp điển hình cho sự vay mượn, cải biến và sáng tạo trong văn học. Hãy làm sáng tỏ.
Mở bài
Nguyễn Du (1765 – 1820) là đại thi hào dân tộc, tác giả của Truyện Kiều – hay Đoạn trường tân thanh – kiệt tác gồm 3254 câu thơ lục bát viết bằng chữ Nôm.
Điều đáng chú ý là tác phẩm được sáng tác trên nền cốt truyện của Kim Vân Kiều truyện, một tiểu thuyết chương hồi Trung Quốc. Chính vì thế, Truyện Kiều là trường hợp lí tưởng để tìm hiểu một quy luật của đời sống văn học: vay mượn không làm giảm giá trị của tác phẩm, nếu người nghệ sĩ biết cải biến và sáng tạo. Bài viết này tập trung làm rõ Nguyễn Du đã vay mượn những gì, và quan trọng hơn, ông đã làm mới chất liệu vay mượn ấy như thế nào.
Thân bài
1. Phạm vi và tính chất của sự tiếp nhận
Kim Vân Kiều truyện là tiểu thuyết chương hồi gồm 20 hồi, viết bằng văn xuôi chữ Hán, tương truyền của Thanh Tâm Tài Nhân – một tác giả sống khoảng cuối Minh đầu Thanh, danh tính đến nay vẫn chưa được xác định chắc chắn. Truyện kể về cuộc đời lưu lạc mười lăm năm của Vương Thúy Kiều.
Cần xác định rõ tính chất của sự tiếp nhận: Nguyễn Du vay mượn phần “chuyện” nhưng làm lại toàn bộ phần “văn”. Nói cách khác, ông giữ lại bộ khung sự kiện, còn tất cả những gì làm nên một tác phẩm nghệ thuật – thể loại, ngôn ngữ, cách khắc họa nhân vật, tư tưởng – đều là của riêng ông.
| Phương diện | Kim Vân Kiều truyện | Truyện Kiều |
|---|---|---|
| Cốt truyện, nhân vật | Nguyên bản | Giữ gần như nguyên vẹn |
| Thể loại | Tiểu thuyết chương hồi, văn xuôi chữ Hán | Truyện thơ lục bát, chữ Nôm |
| Ngôn ngữ | Văn xuôi tự sự | Ngôn ngữ thơ, kết hợp bác học và dân gian |
| Trọng tâm | Kể sự việc, đề cao đạo lí tình – hiếu | Thân phận con người, tiếng kêu đứt ruột |
2. Những gì Nguyễn Du đã vay mượn
Về cốt truyện, Nguyễn Du giữ nguyên bộ khung sự kiện: Kiều gặp Kim Trọng và thề nguyền, gia biến, bán mình chuộc cha, rơi vào tay Mã Giám Sinh và Tú Bà, gặp Thúc Sinh rồi bị Hoạn Thư hành hạ, gặp Từ Hải và báo ân báo oán, mắc mưu Hồ Tôn Hiến, trẫm mình ở sông Tiền Đường, cuối cùng đoàn viên.
Về hệ thống nhân vật, hầu hết các nhân vật cùng tên gọi và quan hệ đều được kế thừa: Thúy Kiều, Thúy Vân, Kim Trọng, Mã Giám Sinh, Tú Bà, Sở Khanh, Thúc Sinh, Hoạn Thư, Từ Hải, Giác Duyên.
Về một số tình tiết quan trọng: cảnh thề nguyền, cảnh trao duyên, mối quan hệ tay ba Thúc Sinh – Kiều – Hoạn Thư, phiên tòa báo ân báo oán.
Mức độ vay mượn như vậy là rất lớn. Nhưng chính vì thế mà giá trị của Truyện Kiều càng đáng nói: nó không nằm ở chỗ Nguyễn Du kể chuyện gì, mà ở chỗ ông kể như thế nào.
3. Những cải biến và sáng tạo của Nguyễn Du
Sáng tạo về thể loại – sự chuyển hóa quyết định nhất.
Từ một tiểu thuyết chương hồi bằng văn xuôi, Nguyễn Du chuyển thành truyện thơ lục bát. Đây không đơn thuần là đổi hình thức. Văn xuôi chương hồi mạnh ở việc kể sự việc, còn thơ lục bát với âm điệu uyển chuyển lại mạnh ở việc diễn tả cảm xúc. Chính lựa chọn thể loại này đã kéo trọng tâm tác phẩm từ sự việc sang tâm trạng – và đó là gốc rễ của mọi sáng tạo còn lại.
Sáng tạo về ngôn ngữ.
Ngôn ngữ Truyện Kiều không phải là bản dịch mà là sáng tạo của chính nhà thơ, kết hợp nhuần nhuyễn hai nguồn.
Từ nguồn bác học là những điển cố, thành ngữ Hán Việt được dùng tự nhiên đến mức người đọc bình dân vẫn hiểu:
Sắc đành đòi một, tài đành họa hai.
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh.
Từ nguồn dân gian là lối nói, thành ngữ, ca dao của người Việt: “ăn xổi ở thì”, “kiến bò miệng chén”, “tai vách mạch dừng”. Sự hòa quyện ấy khiến câu thơ vừa sang trọng vừa gần gũi. Không phải ngẫu nhiên mà nhiều câu Kiều đã đi ngược trở lại vào đời sống dân gian như những câu ca dao:
Trăm năm trong cõi người ta, Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau.
Sáng tạo về cốt truyện: lược bỏ và thêm vào.
Theo các nhà nghiên cứu, Nguyễn Du đã lược bỏ một phần đáng kể chi tiết của nguyên tác – chủ yếu là những đoạn kể dài dòng, những miêu tả trần trụi, thô nhám. Bù lại, ông thêm vào rất nhiều đoạn tả cảnh, tả tình vốn không có trong bản gốc, và đó lại chính là những trang tuyệt bút của tác phẩm:
Cỏ non xanh tận chân trời, Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.
Buồn trông cửa bể chiều hôm, Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa.
Việc thêm – bớt này cho thấy rõ tiêu chí lựa chọn của Nguyễn Du: ông cắt đi cái thuộc về sự việc, giữ lại và bồi đắp cái thuộc về tâm trạng.
Sáng tạo về nhân vật.
Đây là chỗ khoảng cách giữa hai tác phẩm rõ nhất. Nhân vật của nguyên tác chủ yếu được nhận biết qua hành động; nhân vật của Nguyễn Du có đời sống bên trong.
Thúy Kiều không chỉ là người con gái tài sắc gặp nhiều tai ương, mà là một tâm hồn biết tự ý thức về nỗi đau của mình:
Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh, Giật mình mình lại thương mình xót xa.
Ba chữ “mình” liên tiếp trong một dòng thơ – đó là thứ ngôn ngữ chỉ có thể có ở một tác phẩm lấy nội tâm làm trung tâm.
Từ Hải được nâng lên thành hình tượng anh hùng mang khát vọng tự do và công lí, chở theo tinh thần phản kháng của chính nhà thơ. Hoạn Thư được khắc họa đa chiều: ghen tuông, thâm hiểm, nhưng cũng sắc sảo và có phần đáng thương trong thân phận người đàn bà của xã hội nam quyền.
Sáng tạo về tư tưởng – điểm cải biến sâu xa nhất.
Nguyên tác thiên về kể một câu chuyện tài tử giai nhân nhiều biến cố, đề cao đạo lí. Truyện Kiều thì đặt ra vấn đề lớn hơn: số phận con người trong xã hội phong kiến, mâu thuẫn giữa tài năng và mệnh bạc, thân phận người phụ nữ. Nhan đề tác giả tự đặt cho tác phẩm – Đoạn trường tân thanh, tiếng kêu mới đứt ruột – đã nói rõ điều đó.
Chính sự chuyển hướng tư tưởng này biến một cốt truyện vay mượn thành tiếng nói của một dân tộc, một thời đại.
4. Đánh giá
Trường hợp Truyện Kiều cho thấy mức độ vay mượn không quyết định giá trị tác phẩm. Nguyễn Du vay mượn gần trọn vẹn cốt truyện, nhưng những gì ông sáng tạo lại lớn đến mức không ai còn coi Truyện Kiều là một bản phóng tác.
Điều đáng nói hơn là các sáng tạo của ông không rời rạc mà liên đới với nhau: chọn thể thơ lục bát dẫn đến việc phải cắt bớt sự việc và tăng phần tả tình; tăng phần tả tình dẫn đến nhân vật có chiều sâu nội tâm; nhân vật có nội tâm mới cho phép nhà thơ đặt ra vấn đề thân phận con người. Đó là dấu hiệu của một sự cải biến có chủ đích, chứ không phải những thay đổi ngẫu nhiên.
Kết bài
Tìm hiểu Truyện Kiều từ góc độ vay mượn – cải biến – sáng tạo giúp ta nhận ra một quy luật của văn học: không tác phẩm nào ra đời từ hư không, và giá trị của một tác phẩm không nằm ở chỗ nó bắt nguồn từ đâu, mà ở những gì người nghệ sĩ đã thổi vào chất liệu cũ.
Từ hướng tìm hiểu này, còn nhiều trường hợp khác đáng khám phá tiếp: Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ với truyện dân gian Vợ chàng Trương, hay những truyện ngắn hiện đại viết lại truyện cổ tích. Mỗi trường hợp như vậy đều là một cơ hội để hiểu thêm rằng văn học luôn vận động bằng hai chân: kế thừa và sáng tạo.
(Người kiểm duyệt, ra đề) Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Ngữ Văn THPT Trình độ: Thạc sĩ Ngữ Văn, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ CNTT, Ngoại ngữ B1 Kinh nghiệm: 10+ năm kinh nghiệm tại Trường THPT Hoàng Thế Thiện
ThS. Nguyễn Thành Đạt
