Viết bài phát biểu trong lễ phát động một phong trào hoặc một hoạt động xã hội (trang 116)

I. Kiểu bài và yêu cầu cần đạt

Ở lớp 11, các em đã học văn bản Tôi có một ước mơ của Mác-tin Lu-thơ Kinh – một văn bản nghị luận được viết dưới hình thức bài phát biểu. Bài học này yêu cầu các em tự viết một văn bản như vậy, với tư cách đại diện cho tập thể lớp, tổ chức đoàn hội, cộng đồng dân cư, hoặc đóng vai một nhà hoạt động xã hội.

Một lưu ý về hình thức: bài phát biểu không nhất thiết phải được đọc trong một buổi lễ. Nó có thể đến với công chúng dưới dạng một văn bản viết, miễn là nội dung phù hợp để đọc trong lễ phát động.

Năm yêu cầu của kiểu bài:

  1. Giới thiệu được phong trào hoặc hoạt động xã hội muốn hưởng ứng hay phát động, nói rõ tầm quan trọng, tính cấp bách của nó; có cách mở đầu thu hút.
  2. Triển khai hệ thống luận điểm chặt chẽ, sử dụng lí lẽ và bằng chứng thuyết phục, giúp người tiếp nhận hiểu rõ lí do người viết hưởng ứng hoặc phát động.
  3. Nêu được ý kiến trái chiều có thể có và dùng lí lẽ, bằng chứng để phản bác.
  4. Sử dụng hiệu quả yếu tố thuyết minh và biểu cảm để tăng sức tác động.
  5. kết bài gây ấn tượng, thuyết phục người đọc thay đổi nhận thức hoặc hành động.

Điểm khác biệt lớn nhất so với bài nghị luận thông thường: đề tài phải gắn với nhu cầu giải quyết một vấn đề bức thiết của đời sống, đòi hỏi sự quan tâm và hưởng ứng của đông đảo công chúng. Một vấn đề chỉ hay để bàn luận nhưng không kêu gọi được ai hành động thì không phù hợp với kiểu bài này.

II. Trả lời câu hỏi về bài viết tham khảo

(Bài viết tham khảo trong SGK: Thông điệp nhân Ngày Thế giới phòng chống AIDS, 01/12/2003 của Cô-phi An-nan.)

Câu 1. Tác giả viết bài này trong bối cảnh nào?

Bài viết ra đời nhân Ngày Thế giới phòng chống AIDS 1/12/2003, tức hai năm sau phiên họp đặc biệt của Đại hội đồng Liên hợp quốc về HIV/AIDS (2001) – nơi các quốc gia đã thông qua Tuyên bố về Cam kết phòng chống HIV/AIDS với một loạt mục tiêu cụ thể kèm thời hạn, trong đó mốc quan trọng là năm 2005.

Đây là thời điểm nhìn lại giữa chặng đường: cam kết và nguồn lực đã tăng đáng kể, nhưng hành động vẫn quá ít so với yêu cầu thực tế, và nhiều mục tiêu có nguy cơ không đạt được.

Người viết là Cô-phi An-nan, Tổng Thư kí Liên hợp quốc, người coi cuộc chiến chống AIDS là một ưu tiên trong chương trình hành động của tổ chức này và đã khởi xướng thành lập Quỹ Y tế và AIDS toàn cầu.

Câu 2. Bài viết kêu gọi điều gì? Hướng đến đối tượng nào?

Lời kêu gọi gồm hai vế gắn với nhau:

  • Đưa vấn đề AIDS lên vị trí hàng đầu trong chương trình nghị sự chính trị và trong hành động thực tế.
  • Công khai lên tiếng về HIV/AIDS, cùng nhau đánh đổ những thành lũy của sự im lặng, kì thị và phân biệt đối xử đang vây quanh căn bệnh này.

Đối tượng hướng đến: trước hết là chính phủ các quốc gia, các công ti, các nhóm từ thiện và tổ chức cộng đồng – những chủ thể có khả năng huy động nguồn lực. Nhưng ở câu cuối, tác giả thu hẹp lại đến từng cá nhân: cuộc chiến chống HIV/AIDS bắt đầu từ chính mỗi người đọc. Cách chuyển từ tầm vĩ mô về tầm cá nhân này khiến không ai có thể tự coi mình là người ngoài cuộc.

Câu 3. Những luận điểm nào được triển khai? Lí lẽ và bằng chứng có gì đáng chú ý?

Hệ thống luận điểm:

  1. Thế giới đã có cam kết, nguồn lực và những nỗ lực đáng ghi nhận: ngân sách tăng, Quỹ toàn cầu phòng chống AIDS, lao và sốt rét được thông qua, đa số các nước đã có chiến lược quốc gia, nhiều công ti áp dụng chính sách phòng chống tại nơi làm việc.
  2. Nhưng dịch vẫn hoành hành và lan nhanh, kể cả ở những khu vực trước đây còn tương đối an toàn.
  3. Chúng ta đã bị chậm so với các mục tiêu đặt ra cho năm 2005.
  4. Vì vậy phải nỗ lực nhiều hơn, không thể viện cớ có những thách thức khác cấp bách hơn.
  5. Và trên hết, phải công khai lên tiếng, xóa bỏ im lặng và kì thị.

Điểm đáng chú ý ở lí lẽ và bằng chứng:

  • Bằng chứng chủ yếu là sự việc thực tế và số liệu thống kê: mỗi phút trôi qua có khoảng mười người bị nhiễm HIV; phụ nữ đã chiếm tới một nửa tổng số người nhiễm trên toàn thế giới; tuổi thọ giảm sút nghiêm trọng ở những khu vực bị ảnh hưởng nặng nhất; dịch lan nhanh nhất ở Đông Âu và châu Á.
  • Cách lập luận dựa trên sự đối lập giữa cái đã làm được và cái còn thiếu hụt. Đoạn nói về các mục tiêu năm 2005 dùng điệp ngữ “lẽ ra chúng ta phải…” lặp lại ba lần, làm bật lên khoảng cách giữa lời hứa và thực tế.
  • Các con số đều có thể kiểm chứng, gắn với những văn kiện quốc tế cụ thể, nên tạo được độ tin cậy cao.
  • Việc chọn nhóm nạn nhân là phụ nữ, trẻ sơ sinh, thanh niên để nhấn mạnh vừa là bằng chứng, vừa là yếu tố biểu cảm tác động mạnh đến tình cảm người đọc.

Câu 4. Ý kiến trái chiều nào được đề cập? Việc nêu ý kiến trái chiều có tác dụng gì?

Hai ý kiến trái chiều được lường trước và phản bác:

  • Quan niệm cho rằng có những thách thức khác quan trọng và cấp bách hơn việc phòng chống HIV/AIDS. Tác giả bác bỏ dứt khoát: chúng ta không thể tuyên bố rằng những thách thức cạnh tranh có ý nghĩa quan trọng hơn.
  • Quan niệm cho rằng có thể tự bảo vệ mình bằng cách giữ khoảng cách với người bệnh, dựng lên hàng rào ngăn cách giữa “chúng ta” và “họ”. Tác giả phản bác bằng một khẳng định mạnh: trong thế giới khốc liệt của AIDS, không có khái niệm chúng ta và họ; im lặng đồng nghĩa với cái chết.

Tác dụng:

  • Cho thấy người viết đã lường trước phản ứng của người tiếp nhận, thể hiện cái nhìn toàn diện.
  • Biến bài viết thành một cuộc đối thoại thay vì lời hô hào một chiều – người đọc cảm thấy suy nghĩ của mình được đối diện chứ không bị phớt lờ.
  • Việc phản bác được đặt ngay trước lời kêu gọi cuối bài, nên khi lời kêu gọi vang lên thì những trở ngại trong tâm lí người đọc đã được tháo gỡ.

Câu 5. Lời kêu gọi có thể nhận được sự hưởng ứng rộng khắp không? Nếu có thì do đâu?

Lời kêu gọi hoàn toàn có khả năng nhận được sự hưởng ứng rộng khắp, nhờ những yếu tố sau:

  • Vị thế và uy tín của người viết. Cô-phi An-nan là Tổng Thư kí Liên hợp quốc, người cùng tổ chức này được trao giải Nô-ben Hòa bình năm 2001. Tiếng nói ấy có sức nặng đặc biệt.
  • Tính chất toàn cầu và cấp bách của vấn đề. HIV/AIDS liên quan trực tiếp đến sinh mạng con người ở mọi châu lục, không ai có thể coi mình là người ngoài cuộc.
  • Lập luận chặt chẽ, bằng chứng đáng tin cậy, chủ yếu là số liệu và sự việc có thể kiểm chứng.
  • Thái độ trung thực. Tác giả thừa nhận thẳng thắn cả những gì đã đạt được lẫn những gì đã thất bại, kể cả câu “chúng ta đã không hoàn thành được một số mục tiêu”. Sự thẳng thắn ấy tạo niềm tin hơn nhiều so với việc chỉ tô hồng thành tích.
  • Cách xưng hô bao gộp. Tác giả liên tục dùng “chúng ta”, tự đặt mình cùng phía với người nghe, chia sẻ cả trách nhiệm lẫn thất bại, thay vì đứng trên để chỉ trích.
  • Kết bài ngắn gọn và mạnh mẽ, chuyển trách nhiệm về cho từng cá nhân bằng một câu duy nhất.

III. Các bước viết bài

1. Chuẩn bị viết

Trước hết, xác định vị thế của bản thân. Em viết với tư cách:

  • Người hưởng ứng – đồng tình, ủng hộ một phong trào do tổ chức hoặc cá nhân khác khởi xướng; hay
  • Người phát động – người khởi xướng phong trào, hoạt động ấy.

Vị thế này chi phối toàn bộ giọng điệu và cách xưng hô của bài viết, nên phải xác định ngay từ đầu.

Sau đó chọn đề tài. Một số gợi ý trong SGK:

  • Hưởng ứng phong trào “lối sống xanh” để giảm thiểu tác động tiêu cực của con người đến môi trường
  • Hưởng ứng Ngày Quốc tế Tiếng mẹ đẻ
  • Hưởng ứng Ngày Hội đọc sách
  • Tham gia trồng cây để trả lại màu xanh cho quê hương
  • Cùng nhau hành động chống bạo lực học đường

2. Tìm ý

Đọc lại bài viết tham khảo, chú ý cấu trúc và trình tự triển khai, rồi tự trả lời:

  • Phong trào này nhằm giải quyết vấn đề bức thiết gì? Mình viết với tư cách gì và hướng đến ai?
  • Vì sao mọi người cần quan tâm? Tầm quan trọng và tính cấp thiết ra sao? Làm thế nào để thuyết phục họ tin điều đó?
  • Người nghe cần làm gì cụ thể để hưởng ứng? Có thể kêu gọi thay đổi nhận thức, hoặc kêu gọi hành động tức thời.
  • Cần huy động những lí lẽ và bằng chứng nào?
  • Có thể có ý kiến nào trái ngược? Phản bác ra sao?
  • Dùng yếu tố bổ trợ nào? Một mẩu chuyện ngắn, một chi tiết gây xúc động.

Các loại bằng chứng có thể dùng:

Loại Ví dụ
Sự việc thực tế người viết chứng kiến Điều em quan sát được ở lớp, ở trường, ở địa phương
Nghiên cứu khoa học Kết quả một công trình đã công bố
Niềm tin được công nhận rộng rãi Những giá trị mà cộng đồng đều thừa nhận
Ý kiến chuyên gia Nhận định của người có thẩm quyền trong lĩnh vực
Số liệu thống kê Con số cụ thể, có nguồn rõ ràng

Bằng chứng cần sát hợp, đáng tin cậy và lấy từ nhiều nguồn khác nhau.

3. Lập dàn ý

  • Mở bài: Nêu phong trào hoặc hoạt động mà mình hưởng ứng hay phát động, nói rõ tầm quan trọng và tính cấp bách.
  • Thân bài: Trình bày hệ thống luận điểm, lí lẽ, bằng chứng; nêu ý kiến trái chiều có thể có; sử dụng yếu tố thuyết minh và biểu cảm.
  • Kết bài: Thể hiện thông điệp dưới dạng những câu ngắn gọn và mạnh mẽ, thúc giục người tiếp nhận thay đổi nhận thức hoặc hành động.

4. Viết

  • Bài phát biểu đòi hỏi tính hùng biện cao. Ba cách mở đầu thông dụng: đặt một câu hỏi nêu vấn đề; kể một mẩu chuyện dẫn dắt vào vấn đề; đưa ra một kết quả nghiên cứu kèm số liệu.
  • Điều tiết dung lượng: nội dung vừa đủ, phù hợp với thời gian đọc trước công chúng, hoặc đủ để duy trì hứng thú nếu bài được phổ biến dưới dạng văn bản viết.
  • Ngôn ngữ và cách xưng hô phải phù hợp với mục đích và đối tượng. Dùng một số câu khiến sẽ làm lời kêu gọi mạnh mẽ hơn (“Hãy…”, “Đừng để…”).

5. Chỉnh sửa

  • Rà soát cấu trúc: đủ ba phần, mỗi phần đáp ứng đúng yêu cầu.
  • Kiểm tra lí lẽ, bằng chứng theo bốn tiêu chí: chính xác, tin cậy, thích hợp, đầy đủ.
  • Xem lại phong cách: đảm bảo tính trang trọng, xưng hô phù hợp với vị thế người viết, và đặc biệt tránh những lời kêu gọi đại ngôn hoặc cách nói sáo rỗng, cũ mòn. Đây là lỗi phổ biến nhất ở kiểu bài này.
  • Rà soát lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu và lỗi liên kết.

IV. Bài mẫu

BÀI PHÁT BIỂU HƯỞNG ỨNG CUỘC THI ĐẠI SỨ VĂN HÓA ĐỌC

Kính thưa quý thầy cô giáo, Thưa toàn thể các bạn học sinh thân mến!

Tuần trước, tôi đã làm một việc nhỏ: hỏi ba mươi bạn trong lớp mình rằng cuốn sách gần nhất các bạn đọc trọn vẹn – không phải sách giáo khoa – là cuốn gì và đọc từ bao giờ. Mười một bạn không nhớ nổi tên sách. Bảy bạn trả lời rằng lần cuối là từ hồi lớp 9.

Tôi kể con số ấy không để trách ai cả, vì bản thân tôi cũng từng nằm trong nhóm đó. Tôi kể vì nó khiến tôi giật mình. Và đó là lí do tôi đứng đây hôm nay, để cùng các bạn hưởng ứng cuộc thi Đại sứ Văn hóa đọc – một hoạt động được tổ chức thường niên nhằm lan tỏa tình yêu sách trong cộng đồng.

Thưa các bạn!

Sách là kho tàng tri thức được tích lũy qua hàng nghìn năm của nhân loại. Đọc một cuốn sách là được trò chuyện với những người ưu tú nhất của các thời đại, kể cả những người đã sống cách chúng ta rất xa. M. Go-rơ-ki từng nói rằng sách đã mở rộng ra trước mắt ông những chân trời mới – và có lẽ ai từng đọc một cuốn sách thực sự hay đều hiểu cảm giác ấy.

Nhưng trong thời đại số, việc đọc đang đứng trước một thách thức mà các thế hệ trước chưa từng gặp. Vấn đề không phải là chúng ta lười, mà là chúng ta bị chia cắt sự chú ý. Mỗi ngày, điện thoại kéo chúng ta ra khỏi trang sách hàng chục lần. Kết quả là chúng ta đọc rất nhiều chữ nhưng lại ngày càng ít khi đọc trọn một mạch suy nghĩ dài. Khả năng theo đuổi một ý tưởng phức tạp từ đầu đến cuối – thứ mà chỉ việc đọc sách mới rèn được – đang mai một dần.

Thưa các bạn!

Là những người trẻ, chúng ta không chỉ cần đọc mà còn cần biết lan tỏa những cuốn sách hay. Cuộc thi Đại sứ Văn hóa đọc chính là cơ hội để làm điều đó: chia sẻ cảm nhận về cuốn sách đã thay đổi mình, giới thiệu nó với người khác, và trở thành người mang thông điệp về giá trị của việc đọc đến với cộng đồng.

Tôi biết ngay lúc này, có bạn đang nghĩ: “Thời đại này cần nhanh, gọn. Cần gì thì tra mạng, vài giây là có, đọc sách mất thời gian quá.”

Tôi hiểu suy nghĩ đó, và phải thừa nhận rằng nó không hoàn toàn sai – internet đúng là cho chúng ta thông tin nhanh hơn bất kì cuốn sách nào. Nhưng xin các bạn để ý một điều: thông tin không phải là hiểu biết. Tra mạng cho ta biết một sự việc; đọc sách cho ta hiểu vì sao sự việc ấy xảy ra và nó liên quan đến những gì khác. Cái thứ nhất giúp ta trả lời một câu hỏi. Cái thứ hai giúp ta biết đặt ra câu hỏi. Và trong một thế giới mà mọi câu trả lời đều tra được trong vài giây, thì người biết đặt câu hỏi đúng mới là người có lợi thế.

Cũng có bạn nghĩ rằng mình không có thời gian. Nhưng chúng ta hãy thử tính: mười lăm phút mỗi ngày, tức là chưa bằng thời gian xem hết vài đoạn video ngắn, đủ để đọc khoảng hai mươi cuốn sách một năm. Vấn đề chưa bao giờ là thời gian, mà là thứ tự ưu tiên.

Thưa các bạn thân mến!

Tôi xin kết thúc bằng ba đề nghị rất cụ thể.

Hãy đọc mười lăm phút mỗi ngày, vào một khung giờ cố định, và để điện thoại ở phòng khác.

Hãy kể cho một người bạn về cuốn sách các bạn vừa đọc. Một cuốn sách chỉ thực sự sống khi nó được truyền đi.

Và hãy viết bài dự thi Đại sứ Văn hóa đọc năm nay – không phải để đoạt giải, mà để một lần ngồi xuống và tự trả lời câu hỏi: cuốn sách nào đã làm mình khác đi?

Ba mươi câu trả lời tôi thu được ở lớp mình có thể đổi khác vào năm sau. Điều đó phụ thuộc vào chúng ta, bắt đầu từ hôm nay.

Xin chân thành cảm ơn quý thầy cô và các bạn đã lắng nghe!

ThS. Nguyễn Thành Đạt

ThS. Nguyễn Thành Đạt

(Người kiểm duyệt, ra đề)

Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Ngữ Văn THPT

Trình độ: Thạc sĩ Ngữ Văn, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ CNTT, Ngoại ngữ B1

Kinh nghiệm: 10+ năm kinh nghiệm tại Trường THPT Hoàng Thế Thiện