Chọn đến phần học sinh cần nhanh chóng thông qua mục lục bằng cách click đến phần đó
- I. Tác giả Vũ Trọng Phụng
- 1. Cuộc đời
- 2. Sự nghiệp sáng tác
- II. Tác phẩm "Số đỏ"
- 1. Hoàn cảnh ra đời
- 2. Tóm tắt tiểu thuyết "Số đỏ"
- 3. Giá trị của tác phẩm
- III. Đoạn trích "Xuân Tóc Đỏ cứu quốc"
- 1. Vị trí đoạn trích
- 2. Thể loại và phương thức biểu đạt
- 3. Bố cục đoạn trích
- 4. Tóm tắt đoạn trích "Xuân Tóc Đỏ cứu quốc"
- IV. Phân tích đoạn trích "Xuân Tóc Đỏ cứu quốc"
- 1. Tình huống trào phúng
- 2. Nhân vật trào phúng
- 3. Cảnh Xuân Tóc Đỏ hùng biện trước công chúng
- 4. Ngôi kể và điểm nhìn
- 5. Ngôn ngữ trong đoạn trích
- 6. Phong cách hiện thực của Vũ Trọng Phụng qua đoạn trích
- V. Tổng kết
- 1. Chủ đề của đoạn trích
- 2. Giá trị hiện thực
- 3. Những dấu hiệu của tiểu thuyết hoạt kê trong đoạn trích
- 4. Cách đọc hiểu một văn bản thuộc thể loại tiểu thuyết hoạt kê
- VI. Kết luận
“Xuân Tóc Đỏ cứu quốc” là đoạn trích nằm ở nửa đầu chương XX, cũng chính là nửa đầu chương cuối cùng của tiểu thuyết “Số đỏ” – tác phẩm đỉnh cao trong sự nghiệp sáng tác của nhà văn Vũ Trọng Phụng. Đoạn trích được đưa vào chương trình Ngữ văn 12, giúp học sinh nhận biết và phân tích được tính chất trào phúng, giá trị hiện thực của một trong những kiệt tác hoạt kê xuất sắc nhất của văn học Việt Nam thế kỷ XX. Thông qua đoạn trích này, người đọc sẽ thấy được bức tranh xã hội thượng lưu lố lăng, kệch cỡm trong buổi giao thời “Á – Âu xáo trộn” và nghệ thuật trào phúng bậc thầy của Vũ Trọng Phụng.
I. Tác giả Vũ Trọng Phụng
1. Cuộc đời
Vũ Trọng Phụng (1912 – 1939) quê gốc ở tỉnh Hưng Yên nhưng sinh ra và sống chủ yếu ở Hà Nội. Ông bước vào làng báo, làng văn từ rất sớm, bắt đầu có truyện đăng báo từ năm 1930 khi mới 18 tuổi. Suốt cuộc đời ngắn ngủi của mình, Vũ Trọng Phụng dùng ngòi bút để kiếm sống và chống chọi một cách khó khăn với tình cảnh nghèo túng, bệnh tật triền miên. Ông được người đời gọi là nhà văn với “cái nghèo gia truyền”. Dù chỉ sống vỏn vẹn 27 năm, Vũ Trọng Phụng đã để lại một di sản văn học đồ sộ và có giá trị to lớn cho nền văn học Việt Nam.

2. Sự nghiệp sáng tác
a. Các tác phẩm tiêu biểu
Vũ Trọng Phụng được mệnh danh là “ông vua phóng sự đất Bắc” với nhiều tác phẩm xuất sắc ở nhiều thể loại khác nhau:
Phóng sự:
- Cạm bẫy người (1933)
- Kĩ nghệ lấy Tây (1934)
- Cơm thầy cơm cô (1936)
Tiểu thuyết:
- Giông tố (1936)
- Số đỏ (1936)
- Vỡ đê (1936)
- Lấy nhau vì tình (1937)
- Trúng số độc đắc (1938)
b. Đặc điểm sáng tác
Các tác phẩm của Vũ Trọng Phụng đều toát lên sự khinh bỉ sâu sắc cái xã hội đương thời với cảm hứng vạch trần sự thật. Ông có biệt tài xây dựng những hình tượng nhân vật sắc nét, vừa mang tính đặc thù của một thời đại cụ thể, vừa thể hiện rõ bản chất một số trạng huống tồn tại phổ quát của cuộc sống. Ngòi bút của ông như một lưỡi dao sắc bén, phanh phui những góc khuất, những thói hư tật xấu của xã hội thực dân nửa phong kiến đương thời.
II. Tác phẩm “Số đỏ”
1. Hoàn cảnh ra đời
Tiểu thuyết “Số đỏ” ra mắt độc giả lần đầu tiên trên tờ “Hà Nội báo” từ số 40 ngày 7/10/1936. Đến năm 1938, tác phẩm được in thành sách. Đây được xem là tác phẩm nổi tiếng nhất trong sự nghiệp sáng tác của Vũ Trọng Phụng và có vị trí quan trọng trong nền tiểu thuyết Việt Nam hiện đại. Tác phẩm đã được chuyển thể thành nhiều phim và kịch, chứng tỏ sức sống mãnh liệt và giá trị trường tồn của nó.
2. Tóm tắt tiểu thuyết “Số đỏ”
Nhân vật chính của tác phẩm là Xuân, biệt danh là Xuân Tóc Đỏ. Từ một đứa trẻ mồ côi, lêu lổng, lang thang, Xuân đã trải qua đủ “nghề” thường được xem là “mạt hạng”: trèo me, trèo sấu, nhặt bóng ở sân quần vợt, quảng cáo thuốc lậu… Xuân Tóc Đỏ dần bước chân vào xã hội “thượng lưu” nhờ sự nâng đỡ đầy toan tính của bà Phó Đoan – một me Tây dâm đãng.
Đầu tiên, Xuân Tóc Đỏ đến làm việc ở tiệm may Âu hoá. Hắn được vợ chồng Văn Minh và những người trong gia đình này hoặc vô tình hoặc cố ý tôn lên làm “nhà cải cách xã hội”, “đốc tờ Xuân”, “giáo sư quần vợt”. Với đủ danh hiệu “vẻ vang” ấy và với sự láu lỉnh, cơ hội cố hữu, Xuân Tóc Đỏ khiến cô Tuyết say mê và được nhiều nhân vật khác sợ hãi, nể trọng, nhờ cậy, ghi ơn.
Xuân Tóc Đỏ đạt đến vinh quang tột đỉnh vào thời điểm vua nước Xiêm sang thăm Việt Nam nhằm thắt chặt quan hệ hữu nghị giữa hai quốc gia, giữa bối cảnh nền chính trị thế giới đang có những biến động khó lường. Với “thành tích” để thua quán quân quần vợt người Xiêm trong trận thi đấu thể thao mang tính ngoại giao, Xuân Tóc Đỏ được tung hô là “vĩ nhân”, “anh hùng cứu quốc” và tiếp tục được một số tổ chức danh giá chào đón, mời làm thành viên danh dự.
3. Giá trị của tác phẩm
Giá trị hiện thực: Tác phẩm sử dụng lối tương phản giữa cái đồi bại, thối nát vô luân với cái hài, cái trào phúng đã giúp cuốn tiểu thuyết thành công trong việc lột trần những “quái thai” thời đại trong buổi giao thời.
Giá trị phê phán: Tác phẩm đả kích cay độc cái xã hội tư sản bịp bợm, đang chạy theo lối sống văn minh rởm, hết sức lố lăng thối nát. Bên cạnh đó, tác phẩm cũng đả kích những phong trào được thực dân khuyến khích như: Phong trào Âu hoá, thể dục thể thao, chấn hưng Phật giáo…
Giá trị nghệ thuật: Sự thành công của tác giả còn ở việc đã xây dựng được những nhân vật trở thành điển hình về mặt tâm lý xã hội mà cho đến tận hôm nay bóng dáng những nhân vật ấy vẫn còn đâu đó quanh ta.
III. Đoạn trích “Xuân Tóc Đỏ cứu quốc”
1. Vị trí đoạn trích
“Xuân Tóc Đỏ cứu quốc” là đoạn trích nửa đầu của chương XX – chương cuối cùng của tác phẩm “Số đỏ”. Đây là đỉnh cao của sự “thăng tiến” phi lý, là lúc Xuân Tóc Đỏ đạt đến vinh quang tột đỉnh khi được tung hô là “anh hùng cứu quốc”.
2. Thể loại và phương thức biểu đạt
- Thể loại: Tiểu thuyết (tiểu thuyết hoạt kê/trào phúng)
- Phương thức biểu đạt: Tự sự
3. Bố cục đoạn trích
Đoạn trích được chia làm 3 phần:
Phần 1 (từ đầu đến “nhà quán quân quần vợt Xiêm La ra thử tài với Xuân Tóc Đỏ”): Tình hình chuẩn bị cho cuộc thi đấu thể thao đặc biệt.
Phần 2 (tiếp theo đến “các đức vua và quý quan của ba chính phủ về Sở Toàn quyền”): Diễn biến kịch tính của “ván quần” giữa Xuân Tóc Đỏ và quán quân quần vợt Xiêm La.
Phần 3 (phần còn lại): Màn hùng biện của Xuân Tóc Đỏ và sự tung hô của dân chúng.
4. Tóm tắt đoạn trích “Xuân Tóc Đỏ cứu quốc”
Phần 1 – Tình hình chuẩn bị cho cuộc thi đấu:
Sân quần Rollandes Varreau của Hà thành đã ghi được một chỗ rẽ cho lịch sử thể thao khi giá vào cửa là ba đồng hạng bét nhưng người xem cũng trên ba nghìn. Tất cả mọi người đều đã thua và họ đều hi vọng vào Xuân Tóc Đỏ. Tất cả các quan chức cấp cao của hai nước đã an toạ nhưng Tổng cục thể thao Bắc Kì đang lo sốt vó khi không thấy hai nhà đương kim Hải và Thụ. Cuối cùng, để chữa cháy họ mời quán quân Xiêm La đấu với Xuân Tóc Đỏ.
Phần 2 – Diễn biến trận đấu:
Trong trận đấu, Xuân đã chiếm được ưu thế hơn so với quán quân Xiêm. Điều đó khiến vua Xiêm tức giận và doạ dẫm chiến tranh sẽ nổ ra nếu Xuân thắng. Ông Giám đốc chính trị Đông Dương đã phải tìm ông Văn Minh để bảo Xuân Tóc Đỏ nhường quán quân Xiêm La.
Phần 3 – Màn hùng biện và sự tung hô:
Xuân nghe vậy thì nhường bàn cuối khiến công chúng, khán giả sững sờ. Ban đầu họ có vẻ đả đảo Xuân nhưng với sự lẻo mép, khôn lỏi của mình, Xuân đã thuyết phục quần chúng bằng tài diễn thuyết. Hắn tỏ vẻ trịch thượng và tự cho rằng mình đã bỏ qua lòng tự trọng mà cứu đất nước. Lúc này, quần chúng lại coi hắn như người hùng cứu quốc thực thụ và tán tụng, ngợi ca.
IV. Phân tích đoạn trích “Xuân Tóc Đỏ cứu quốc”
1. Tình huống trào phúng
Đoạn trích xây dựng ba tình huống trào phúng đặc sắc:
Tình huống 1: Hai nhà quán quân cũ là Hải và Thụ mất tích, dẫn đến nguy cơ trận chung kết quần vợt phải hoãn, đồng thời cũng tạo cơ hội cho Xuân Tóc Đỏ được ra sân tỉ thí với quán quân Xiêm La.
Tình huống 2: Xuân Tóc Đỏ thắng điểm quán quân Xiêm La, vô tình đẩy hai nước Việt, Xiêm đến miệng hố chiến tranh – một tình trạng nguy cấp phải giải quyết kịp thời.
Tình huống 3: Đông đảo khán giả đả đảo Xuân, đòi được giải thích, buộc Xuân và ông bầu Văn Minh phải biện xảo để xoay ngược thế cờ.
Trong ba tình huống nêu trên, tình huống 2 là tình huống chính. Bởi vì, tình huống này đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nên kịch tính và bước ngoặt của toàn bộ sự kiện được kể, nó liên quan chặt chẽ đến cao trào của sự kiện, nói lên “Số đỏ” của nhân vật Xuân, phơi bày toàn bộ sự bịp bợm của màn kịch đang diễn ra.
2. Nhân vật trào phúng
a. Đặc điểm chung về tên gọi nhân vật
Các nhân vật trong đoạn trích có tên gọi rất độc đáo, mang ngụ ý sâu xa: ông TYPN, Văn Minh, Xuân Tóc Đỏ, cô Tuyết… Tên nhân vật gây ấn tượng mạnh, gắn với ngoại hình, đặc điểm, tính cách đặc biệt, kích thích sự tò mò, hứng thú của người đọc.
b. Phân tích hành động các nhân vật
Nhân vật Xuân Tóc Đỏ:
Xuân “kêu rằng cái phần danh dự của gia đình cũng còn có cơ cứu chữa được, vì mọi người còn hi vọng vào Xuân”. Nhân vật không được tác giả giới thiệu một cách trực tiếp mà chỉ xuất hiện gián tiếp qua lời kể của nhân vật khác nhưng ta có thể thấy mọi người đều đang rất mong chờ, hi vọng và trao trọn niềm tin cho nhân vật này. Điều đó cho thấy đây là một nhân vật có “quyền lực”, “tài giỏi” vô cùng nên mới được trao niềm tin để cứu vớt lại danh dự của một gia đình.
Nhân vật ông Văn Minh:
Ông Văn Minh sung sướng vì người của mình được đại diện cho Hà Thành để giữ cái danh dự cho Tổ quốc, trước nhà vô địch Xiêm La vì như vậy sẽ làm tăng danh dự cho bản thân. Đây là điển hình cho loại người háo danh, cơ hội trong xã hội đương thời.
Nhân vật vua Xiêm:
Vua Xiêm “lộ ra mặt rồng tất cả sự thịnh nộ của vị thiên tử thế thiên hành đạo”; “Vua Xiêm tức thì lôi trong túi áo ra cái bản đồ Ấn Ðộ Chi Na do chính phủ Xiêm vẽ lại”. Lối miêu tả cường điệu càng nhấn mạnh mức độ nghiêm trọng của sự kiện, thể hiện rõ nét cơn thịnh nộ của vua Xiêm khi đứng trước bàn thắng của Xuân Tóc Đỏ.
Nhân vật ông Giám đốc chính trị Đông Dương:
Ông Giám đốc “sau khi tai nghe một hiệu lệnh của quan Toàn quyền, tức thì bỏ khán đài, chạy xuống sân đi tìm ông bầu của Xuân Tóc Đỏ”. Hành động của quan chức đã tạo ra một bức tranh hài hước và mỉa mai về tình hình “cứu quốc” – cứu quốc bằng phương án nhường đối thủ, đây là một lối suy nghĩ hèn nhát, thiển cận.
Nhân vật đám đông:
“Tuy giá vé vào cửa là ba đồng hạng bét, số công chúng sáng hôm sau ấy, cũng trên ba nghìn”; “rất nhiều người hâm mộ vì đến chậm, không mua được vé, bèn hoá ra phẫn uất và chết một cách rất thể thao, nghĩa là tự tử dần bằng thuốc phiện không có giấm thanh, hút vào phổi”; “công chúng còn đứng lại, đông nghìn nghịt, tốp này định chia buồn với Xuân, tốp kia định trách cứ Xuân”.
Những chi tiết này gợi khung cảnh hỗn loạn, đầy nghịch lý qua ngôn ngữ châm biếm, mỉa mai xen lẫn cường điệu để mô tả trạng thái “thôi miên, lên đồng”. Ở đây là cả một cộng đồng xã hội bị một cá nhân, tổ chức lôi kéo “dắt mũi”.
c. Lời nói của các nhân vật
Các lời thoại như “Xuân Tóc Đỏ vạn tuế! Sự đại bại vạn tuế!”; “Hỡi công chúng! Mi chưa hiểu rõ những lẽ cực kì to tát nó khiến ta phải đành nhường giải cho nhà vô địch Xiêm La!”; “Xuân thua không phải bởi vô tài! Chắc thiên hạ đã mục kích rất rõ. Vậy xin thiên hạ hãy bình tĩnh nghe tại sao người của tôi lại phải thua”; “A bas Xuân! A bas Xuân! Des explications” đều mang màu sắc châm biếm, mỉa mai xen lẫn cường điệu, phê phán.
Nhận xét: Bằng ngòi bút trào phúng, lối viết “ngấu nghiến”, nhịp điệu dồn dập, giọng văn phảng phất thái độ khinh miệt, nhà văn đã tạo ra những nhân vật dị biệt, khác lạ từ tên gọi đến tính cách. Họ đại diện cho một xã hội lố lăng, kệch cỡm, “chó đểu” thời bấy giờ.
3. Cảnh Xuân Tóc Đỏ hùng biện trước công chúng
Đây là một trong những cảnh đặc sắc nhất của đoạn trích, thể hiện rõ nghệ thuật trào phúng bậc thầy của Vũ Trọng Phụng.
Về nội dung: Xuân đề cập đến những hậu quả của một xung đột Việt – Xiêm và nhấn mạnh rằng cuộc chiến sẽ kéo theo nạn đói và thảm hoạ cho nhân loại.
Về ngôn từ: “Hỡi công chúng! Mi chưa hiểu rõ những lẽ cực kì to tát nó khiến ta đành phải nhường giải cho nhà vô địch Xiêm La”; “Mi đã biết đâu cái lòng hi sinh cao thượng vô cùng”, “điểm cốt yếu của người xả thân cứu nước không phải là chỉ nghĩ đến mình…” Ngôn từ chứa đầy các yếu tố đối nghịch, hội tụ các mối tương quan xã hội phức tạp. Chúng xung đột và hoà hợp với nhau một cách kì dị, phản ánh đúng bản chất kì dị của xã hội đương thời.
Về giọng điệu: Giọng điệu kiêu ngạo, hùng biện, bề trên thể hiện bản chất khôn lỏi, cơ hội của Xuân.
Về hành động: Nó vỗ vào ngực (tự cao, tự mãn, đề cao bản thân); nó đấm tay xuống không khí (sự kiên định); nó giơ cao tay lên (sự quyết tâm)…
Nhận xét: Cảnh Xuân Tóc Đỏ hùng biện có dáng dấp của một màn hài kịch, thể hiện rõ cảm quan của Vũ Trọng Phụng về hiện thực. Xã hội đảo điên đã tạo cơ hội cho Xuân – một kẻ “hạ lưu” vô học nhưng láu cá – đã chui sâu, leo cao và đạt được cơ hội “thăng tiến” khó ngờ. Theo ông, tất cả những gì đang diễn ra trong xã hội đều là một tấn trò não nuột, xen lẫn bi và hài.
4. Ngôi kể và điểm nhìn
Ngôi kể và điểm nhìn: Đoạn trích được kể ở ngôi thứ ba với điểm nhìn bên ngoài.
Ý nghĩa của việc lựa chọn ngôi kể và điểm nhìn:
Thứ nhất, tạo điều kiện bao quát toàn cảnh sự việc, đẩy nhanh nhịp độ kể và làm nổi bật tính chất “hề” của toàn bộ những gì được kể.
Thứ hai, tuy chọn điểm nhìn bên ngoài để miêu tả, tái hiện sự việc nhưng vị trí đặt điểm nhìn lại luôn được dịch chuyển, soi chiếu ở nhiều góc khác nhau (bao quát, cụ thể, xa, gần…) để người đọc thấy được bức tranh tổng thể về những gì đang diễn ra: từ cảnh náo nhiệt trên sân vận động đến cảnh rỉ tai ám muội giữa các “đấng” tai to mặt lớn trong ban tổ chức sự kiện; từ cảnh rừng người hò reo đến cảnh đặc tả từng động tác tay, chân đầy “biểu cảm” của nhân vật chính – Xuân Tóc Đỏ.
Thứ ba, mô tả và đánh giá hiện thực từ nhiều góc độ, phê phán và chỉ ra những vấn đề xuất hiện trong thời buổi “cũ – mới tranh nhau”, “Á – Âu xáo trộn”, mớ hỗn độn tạp nham mà tác giả cho rằng đó là “cái xã hội đen tối, thối nát”. Điểm nhìn toàn tri giúp nhà văn vạch trần những mảng tối trong hiện thực đồng thời thể hiện sự khinh bỉ đối với xã hội lúc bấy giờ.
Như vậy, việc lựa chọn ngôi kể và điểm nhìn tuỳ thuộc đặc điểm của đối tượng được miêu tả, thể hiện. Đây là sự lựa chọn phù hợp, có ý đồ nghệ thuật rõ ràng.
5. Ngôn ngữ trong đoạn trích
a. Sự tương đồng giữa ngôn ngữ người kể chuyện và ngôn ngữ nhân vật
Cả hai đều thể hiện rõ sắc thái mỉa mai, trào phúng, mặc dù ở lời nhân vật, sự mỉa mai không mang tính chủ động. Do được đặt trong bối cảnh “hề” nên ngay cả khi lời nhân vật thể hiện tâm trạng hoảng hốt (lời nhân vật Văn Minh) hay lâm li, phấn khích (lời nhân vật Xuân Tóc Đỏ), thì tính chất mỉa mai vẫn được bộc lộ rất rõ, hoà điệu với tính chất mỉa mai trong lời người kể chuyện.
b. Sự khác biệt
| Ngôn ngữ của người kể chuyện | Ngôn ngữ của nhân vật |
|---|---|
| Là lời người kể chuyện | Là lời nhân vật |
| Thực hiện chức năng thuật kể, miêu tả, giới thiệu nhân vật, sự việc | Phát ra trong những hoàn cảnh, tình huống giao tiếp cụ thể |
| Thể hiện góc nhìn và quan điểm đánh giá riêng | Bộc lộ cảm xúc, suy nghĩ của nhân vật |
6. Phong cách hiện thực của Vũ Trọng Phụng qua đoạn trích
Thứ nhất, ý thức phơi bày những mặt trái, mặt nhố nhăng của hiện thực luôn thường trực. Trong con mắt của ông, xã hội đương thời đầy rẫy những biểu hiện tha hoá, suy đồi, dường như vô phương cứu chữa.
Thứ hai, sắc sảo trong việc xây dựng những chân dung biếm hoạ, luôn tìm thấy những chi tiết độc đáo có thể lột trần chân tướng của sự vật, hiện tượng và con người thuộc nhiều tầng lớp xã hội khác nhau.
Thứ ba, thể hiện một khả năng tưởng tượng, hư cấu đặc biệt khi liên tiếp dựng lên những tình huống phi lí, những mẫu nhân vật quái dị với hành động và ngôn ngữ khác thường. Tuy nhiên, mọi sự tưởng tượng, hư cấu của ông đều dựa trên nền tảng hiện thực.
Thứ tư, để tăng cường khả năng bao quát hiện thực cho trang viết, nhà văn dụng công trong việc hư cấu nên các tình huống – sự kiện có sự góp mặt của đủ hạng người trong xã hội; sử dụng bối cảnh lịch sử và xã hội thực tế; ngôn từ sắc bén, mô tả tinh tế để thể hiện sự nhạy bén trong việc quan sát và phê phán xã hội thông qua các biện pháp tu từ nói mỉa, nghịch ngữ, ẩn dụ…; giọng văn đanh thép, mỉa mai để tố cáo sự thối nát của xã hội đương thời; sử dụng kiểu liên hệ so sánh đầy tính bất ngờ nhắm tới nhiều đối tượng cùng một lúc.
V. Tổng kết
1. Chủ đề của đoạn trích
Đoạn trích “Xuân Tóc Đỏ cứu quốc” tập trung thể hiện chủ đề về sự tha hoá về nhân cách của những kẻ đại diện cho xã hội “chó đểu”; sự xuống cấp của cả hệ thống, một chế độ xã hội đang trên đường băng hoại đầu thế kỉ XX trước cơn xoáy Âu hoá ở Việt Nam.
2. Giá trị hiện thực
Vũ Trọng Phụng dựng lên bức tranh về xã hội thượng lưu thông qua cuộc tỉ thí quần vợt. Đó là bức tranh hiện thực về một cộng đồng xã hội thượng lưu lố lăng, kệch cỡm, nơi mà một kẻ vô học, láu cá như Xuân Tóc Đỏ lại có thể trở thành “anh hùng cứu quốc”, “vĩ nhân” được tung hô.
3. Những dấu hiệu của tiểu thuyết hoạt kê trong đoạn trích
- Phản ánh được bức tranh đời sống rộng lớn với đủ thành phần xã hội và các sự kiện chằng chéo, phức tạp
- Từ một vài sự việc, nhân vật cụ thể, nhà văn giúp độc giả hình dung được bức tranh rộng lớn về các quan hệ và tính cách phức tạp trong xã hội
- Làm chuyển biến nhận thức của độc giả về các vấn đề bức thiết của cuộc sống
- Xây dựng các tình huống và chân dung trào phúng
- Ngôn ngữ trào phúng
- Bối cảnh trào phúng
4. Cách đọc hiểu một văn bản thuộc thể loại tiểu thuyết hoạt kê
Bước 1: Đọc và xác định đề tài; câu chuyện và hệ thống sự kiện; tình huống và thế giới nhân vật; ngôi kể và điểm nhìn; ngôn ngữ.
Bước 2: Kết nối để xác định chủ đề, giá trị của văn bản; nhận xét về phong cách của nhà văn.
VI. Kết luận
“Xuân Tóc Đỏ cứu quốc” là một đoạn trích tiêu biểu, thể hiện đỉnh cao nghệ thuật trào phúng của Vũ Trọng Phụng. Qua đoạn trích, nhà văn đã vẽ nên bức tranh sinh động về một xã hội thượng lưu lố lăng, kệch cỡm trong buổi giao thời, nơi mà những giá trị đạo đức bị đảo lộn, nơi mà một kẻ “hạ lưu” vô học như Xuân Tóc Đỏ lại có thể trở thành “anh hùng cứu quốc”. Tác phẩm không chỉ có giá trị văn học mà còn mang ý nghĩa xã hội sâu sắc, giúp người đọc có thái độ phê phán tình trạng loạn chuẩn khi đánh giá các hiện tượng đời sống và nhìn nhận con người, hướng tới việc xây dựng một môi trường xã hội lành mạnh.
“Số đỏ” nói chung và đoạn trích “Xuân Tóc Đỏ cứu quốc” nói riêng xứng đáng là “vật báu vô giá trong nền văn học Việt Nam” – một đóng góp hết sức to lớn của nhà văn Vũ Trọng Phụng cho kho tàng văn chương dân tộc.
(Người kiểm duyệt, ra đề) Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Ngữ Văn THPT Trình độ: Thạc sĩ Ngữ Văn, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ CNTT, Ngoại ngữ B1 Kinh nghiệm: 10+ năm kinh nghiệm tại Trường THPT Hoàng Thế Thiện
ThS. Nguyễn Thành Đạt

