Viết báo cáo nghiên cứu về một vấn đề tự nhiên, xã hội (trang 146)

I. Kiểu bài và yêu cầu cần đạt

Ở lớp 10 và lớp 11, các em đã tập viết báo cáo nghiên cứu với những đề tài cụ thể, giới hạn ở một số đối tượng đơn lẻ. Lớp 12 nâng yêu cầu lên: đề tài mang tính khái quát hơn, đòi hỏi người viết phải làm chủ được một khối lượng dữ liệu phong phú, phức tạp và xây dựng được hệ thống luận điểm thể hiện tầm nhìn bao quát.

Năm yêu cầu của kiểu bài:

  1. Giới thiệu được đề tài nghiên cứu; nêu được câu hỏi nghiên cứu chính cần giải quyết.
  2. Trình bày kết quả nghiên cứu qua hệ thống luận điểm sáng rõ, phù hợp với dữ liệu đã thu thập.
  3. Thể hiện được cái nhìn toàn cảnh về vấn đề và quan điểm của người viết.
  4. Vận dụng các thao tác nghiên cứu cơ bản, khai thác nguồn tham khảo đáng tin cậy.
  5. Sử dụng hiệu quả sơ đồ, bảng biểu; thuyết minh hình ảnh minh họa; có trích dẫn, cước chú và trình bày tài liệu tham khảo đúng quy định.

II. Hai điều cần nhớ khi viết báo cáo ở mức khái quát

Thứ nhất, không được biến báo cáo thành bản tổng hợp thông tin. Một báo cáo về vấn đề khái quát có thể không nổi bật vì tính mới mẻ, đột phá, nhưng khi trình bày luận điểm, người viết phải đồng thời cho thấy cách tiếp cận riêng của mình – cách chia vấn đề, cách gọi tên hiện tượng, cách sắp xếp dữ liệu.

Thứ hai, phải thể hiện được quan điểm. Quan điểm có thể bộc lộ qua đánh giá, bình luận trực tiếp, hoặc qua tính định hướng, gợi mở của bài viết – nhiều luận điểm được nêu ra như những gợi ý để người đọc tìm hiểu vấn đề sâu hơn, rộng hơn.

Cũng cần lưu ý: cụm “một vấn đề tự nhiên, xã hội” có phạm vi chỉ định rất rộng. Bài viết tham khảo đi sâu vào lĩnh vực mĩ thuật nhưng vẫn thuộc kiểu bài này, vì nó chạm đến những vấn đề xã hội rộng lớn làm nền cho sự phát triển của mĩ thuật.

III. Trả lời câu hỏi về bài viết tham khảo

Bài viết tham khảo là Mĩ thuật Việt Nam thời mở cửa (trích) của Nguyễn Quân.

Câu 1. Nhan đề cho biết những thông tin gì về đề tài, nội dung và phạm vi nghiên cứu?

Nhan đề chỉ gồm hai thành tố nhưng đã xác định đủ ba điều:

  • Đề tài, đối tượng nghiên cứu: mĩ thuật Việt Nam.
  • Nội dung nghiên cứu: diện mạo và những đặc điểm nổi bật trong sự phát triển của nền mĩ thuật ấy.
  • Phạm vi: giới hạn không gian là Việt Nam, giới hạn thời gian là “thời mở cửa” – mà ngay ở phần đặt vấn đề, tác giả đã xác định cụ thể là thập niên 1990 – 2000, thời kì được định danh bằng cụm khái niệm mở cửa – hội nhập – hình thành thị trường.

Đây là mô hình đặt nhan đề đáng học: đối tượng + giới hạn phạm vi, ngắn gọn mà không mơ hồ.

Câu 2. Báo cáo triển khai những luận điểm nào? Câu chủ đề của mỗi luận điểm? Cứ liệu được dùng ra sao?

Toàn bộ phần giải quyết vấn đề được đặt dưới một nhận định bao trùm: Thẩm mĩ dân tộc – hiện đại – mở cửa là thẩm mĩ chủ đạo của giai đoạn đổi mới, với đặc điểm nổi bật là “cửa mở hai chiều”. Từ đó hình thành hai luận điểm lớn, mỗi luận điểm lại chia làm hai ý – một cấu trúc rất cân đối.

Luận điểm Câu chủ đề Ý chính
Chiều mở vào “Ở chiều mở vào, ta thấy các nghệ sĩ tìm về nghệ thuật dân tộc thời tiền thực dân…” Mở vào truyền thống dân tộc
“Chiều mở vào thứ hai, quan trọng không kém, là mở vào nội giới cá nhân.” Mở vào thế giới bên trong của cái tôi
Chiều mở ra “Chiều mở ra cũng có hai chiều đan xen nhau.” Tiếp nhận các trào lưu hiện đại phương Tây
“Chiều mở ra thứ hai bắt đầu rầm rộ từ giữa những năm 1990…” Hội nhập thực chất với hoạt động nghệ thuật quốc tế

Cách sử dụng cứ liệu: dữ liệu trong bài rất dày và được dùng theo ba hướng khác nhau, chứ không chỉ để minh họa.

  • Liệt kê để chứng minh: các nguồn cảm hứng truyền thống (điêu khắc đình chùa, nghệ thuật Chăm, Tây Nguyên, tranh thờ của các dân tộc miền núi), chất liệu giấy dó, hàng loạt trào lưu phương Tây từ Tượng trưng, Dã thú, Biểu hiện, Siêu thực, Lập thể đến Pop-art, nghệ thuật ý niệm.
  • Mốc thời gian để cho thấy sự vận động: đầu những năm 1980 lớp nghệ sĩ đàn anh còn e dè, ngỡ ngàng trước các trường phái; đến thế hệ đổi mới thì đã “thuộc lòng” và biết rút tỉa những gì thích hợp với mình.
  • So sánh để làm bật bản chất vấn đề: đối chiếu cuộc đổi mới lần này – một cuộc đấu tranh tự thân của nghệ thuật – với cuộc đổi thay trước từ mĩ thuật Đông Dương sang mĩ thuật Kháng chiến – Cách mạng, vốn là hệ quả của cách mạng tư tưởng và xã hội nhiều hơn.

Câu 3. Đặc điểm của ngôn ngữ được sử dụng trong báo cáo.

  • Chính xác, có tính thuật ngữ: dùng nhiều khái niệm chuyên ngành (chủ nghĩa hiện đại, nghệ thuật ý niệm, trừu tượng – biểu hiện), và khi cần thì có cước chú giải thích, như trường hợp thuật ngữ Modernism.
  • Sáng rõ, có tính khái quát: mỗi đoạn thường mở đầu bằng một câu chủ đề mang tính khẳng định, sau đó mới triển khai bằng dữ liệu.
  • Khách quan nhưng vẫn có dấu ấn riêng: những cách diễn đạt như “vừa vồ vập vừa dè chừng”, “không thực sự tạo ra các dòng tương đương mà chỉ vang vọng” cho thấy thái độ đánh giá thận trọng, có cân nhắc.
  • Có yếu tố hình ảnh ở những chỗ cần khái quát: “cửa sổ đổi mới”, “cái cây mĩ thuật Việt Nam bung ra nhiều cành nhánh”, “dòng sông… uốn khúc ra biển”. Điều này cho thấy ngôn ngữ báo cáo nghiên cứu không nhất thiết phải khô khan.

Câu 4. Tranh minh họa có tác dụng gì?

Bức Chiến lũy của Lê Anh Vân được đưa vào với hai tác dụng:

  • Bổ trợ cho kênh chữ: những đặc điểm tạo hình mà lời văn khó diễn tả hết thì người đọc có thể trực tiếp nhìn thấy. Đây là kiểu minh họa mang tính chứng cứ, không phải để trang trí.
  • Tăng độ tin cậy: phần thuyết minh ghi đủ tác giả, tên tác phẩm, năm sáng tác, chất liệu, kích thước và nguồn lưu giữ (Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam). Đây chính là mẫu chú thích hình ảnh mà các em nên làm theo.

Câu 5. Nhận xét về tính chất của các tài liệu tham khảo.

Ba tài liệu được nêu đều có ba đặc điểm chung:

  • Đáng tin cậy và chuyên sâu: đều là sách nghiên cứu do nhà xuất bản chuyên ngành ấn hành, trong đó có công trình của một viện nghiên cứu và một trường đại học chuyên ngành.
  • Sát với phạm vi đề tài: cả ba đều bàn về mĩ thuật Việt Nam hiện đại, đặc biệt là giai đoạn Đổi mới – không có tài liệu nào lạc đề.
  • Trình bày đúng quy cách: theo trật tự Tác giả (năm xuất bản), Tên tài liệu, Nhà xuất bản, Nơi xuất bản, sắp xếp theo thứ tự bảng chữ cái.

Điều đáng rút ra: tài liệu tham khảo cần chọn lọc chứ không cần nhiều. Ba tài liệu đúng trọng tâm có giá trị hơn một danh sách dài mà lỏng lẻo.

IV. Các bước thực hành viết

1. Lựa chọn đề tài

Đề tài có thể hướng về những gì liên quan đến cuộc sống và việc học của bản thân, miễn là nó thử thách được khả năng thu thập, xử lí dữ liệu từ nhiều nguồn và khả năng nêu luận điểm bao quát.

Một số đề tài SGK gợi ý:

  • Hành động của giới trẻ trong phong trào tái chế vật liệu đã qua sử dụng để bảo vệ môi trường.
  • Vai trò của những người có ảnh hưởng rộng trên mạng xã hội đối với cuộc sống thanh niên hiện nay.
  • Tác động của những khám phá mang tính bước ngoặt trong công nghệ đến xu hướng chọn nghề của học sinh cuối cấp.
  • Sự lan tỏa của chủ nghĩa tối giản trong phong cách sống của một số thành phần dân cư.
  • Vai trò của một xu hướng hay trường phái nghệ thuật trong việc làm thay đổi cách sống và thị hiếu của thanh niên.
  • Những xu hướng hay hiện tượng âm nhạc đang được học sinh quan tâm và tán thưởng.

2. Thu thập, phân tích và đánh giá thông tin

Với đề tài khái quát, khâu này có tầm quan trọng đặc biệt. Cần chú ý:

  • Thu thập từ nhiều nguồn khác nhau: sách nghiên cứu, báo chí chính thống, báo cáo của tổ chức uy tín, khảo sát thực tế do chính em thực hiện.
  • Đánh giá độ tin cậy trước khi dùng: ai công bố, công bố khi nào, dựa trên phương pháp gì. Số liệu quá cũ sẽ làm giảm giá trị bài viết.
  • Phân loại dữ liệu theo luận điểm ngay khi thu thập, để khỏi phải sắp xếp lại từ đầu khi viết.

3. Xây dựng đề cương

Đề cương cần vạch càng chi tiết càng tốt. Trong mỗi luận điểm có thể có nhiều ý ở các cấp độ lớn nhỏ khác nhau – hãy ghi rõ cả những ý nhỏ ấy.

Bố cục ba phần:

Phần Nội dung
1. Đặt vấn đề Giới thiệu đề tài; nêu lí do chọn; nêu câu hỏi nghiên cứu chính; giới thiệu phương pháp
2. Giải quyết vấn đề Trình bày các luận điểm; với mỗi luận điểm: câu chủ đề → lí lẽ, phân tích → cứ liệu → nhận xét; kèm bảng biểu, hình ảnh có thuyết minh
3. Kết luận Khái quát kết quả nghiên cứu; nêu đánh giá và mở rộng vấn đề; có thể nêu khuyến nghị hoặc hướng nghiên cứu tiếp theo
Tài liệu tham khảo Tách thành phần riêng, trình bày đúng quy cách

Lưu ý: phần kết luận không chỉ tóm tắt. Ở bài viết tham khảo, sau khi khái quát, tác giả đã mở rộng bằng cách đặt giai đoạn đổi mới vào cả tiến trình phát triển của mĩ thuật Việt Nam trong một phần tư cuối thế kỉ XX.

4. Viết

  • Triển khai mỗi luận điểm thành đoạn văn có câu chủ đề rõ ràng, chú ý cách trình bày cứ liệu và cách kết nối các đoạn.
  • Đặc trưng của kiểu bài này là trình bày đặc điểm của vấn đề rồi lí giải đặc điểm ấy từ nhiều góc độ. Bài tham khảo là ví dụ tốt: hai luận điểm “chiều mở vào” và “chiều mở ra”, mỗi luận điểm hai ý, đều có giải thích cụ thể.
  • Sắp xếp sơ đồ, bảng biểu, tranh ảnh đúng chỗ, phù hợp với nội dung được thể hiện ở kênh chữ.

5. Chỉnh sửa

Về nội dung: các tiểu mục phải tường minh, đầy đủ; các luận điểm được triển khai rõ ràng.

Về hình thức: trình bày đúng quy cách báo cáo nghiên cứu – đặc biệt là tài liệu tham khảo phải tách thành phần riêng; các phương tiện phi ngôn ngữ được thể hiện hợp lí; chính tả, diễn đạt chuẩn mực.

V. Quy cách trích dẫn, cước chú, tài liệu tham khảo

Thành phần Quy cách Ví dụ
Trích dẫn trực tiếp Đặt trong ngoặc kép, ghi nguồn ngay sau …được gọi là “cửa sổ đổi mới” của văn nghệ (Nguyễn Quân, 2010, tr. 113).
Trích dẫn gián tiếp Diễn đạt lại bằng lời mình, vẫn ghi nguồn Theo Nguyễn Quân, mĩ thuật là lĩnh vực hội nhập sớm và thực chất nhất…
Cước chú Đánh số ở cuối trang, dùng để giải thích thuật ngữ hoặc bổ sung thông tin phụ ¹ Modernism: thuật ngữ chỉ trào lưu…
Chú thích hình ảnh, bảng biểu Ghi đủ số thứ tự, tên gọi và nguồn Bảng 1: Một số ngành nghề mới (Nguồn: …)
Tài liệu tham khảo Tác giả (năm), Tên tài liệu, NXB, Nơi xuất bản; xếp theo thứ tự bảng chữ cái Nguyễn Quân (2010), Mĩ thuật Việt Nam thế kỉ 20, NXB Tri thức, Hà Nội.

VI. Bài mẫu

Đề bài: Viết báo cáo nghiên cứu về tác động của công nghệ đến xu hướng lựa chọn nghề nghiệp của học sinh, sinh viên.

(Số liệu dưới đây mang tính minh họa cho cách trình bày. Khi làm bài, các em cần thay bằng số liệu mới nhất và ghi rõ nguồn.)

BÁO CÁO NGHIÊN CỨU

Tác động của công nghệ đến xu hướng lựa chọn nghề nghiệp của học sinh, sinh viên

1. Đặt vấn đề

Sự phát triển của công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và tự động hóa đang làm thay đổi mọi mặt đời sống. Một trong những lĩnh vực chịu tác động sâu nhất là thị trường lao động, và cùng với nó là cách người trẻ hình dung về tương lai nghề nghiệp của mình.

Theo Báo cáo Tương lai việc làm 2020 của Diễn đàn Kinh tế Thế giới, đến năm 2025 khoảng 85 triệu việc làm có thể bị máy móc thay thế, nhưng đồng thời khoảng 97 triệu việc làm mới sẽ xuất hiện. Con số ấy cho thấy công nghệ không đơn thuần lấy đi hay tạo thêm việc làm, mà đang định hình lại toàn bộ bản đồ nghề nghiệp.

Từ thực tế đó, báo cáo này đặt ra câu hỏi nghiên cứu chính: Công nghệ đang tác động đến xu hướng lựa chọn nghề nghiệp của học sinh, sinh viên trên những phương diện nào, và tác động ấy mang lại cơ hội hay thách thức nhiều hơn?

Phương pháp nghiên cứu: thu thập và phân tích tài liệu, tổng hợp số liệu thống kê từ các nguồn đáng tin cậy, kết hợp quan sát thực tế trong môi trường học đường.

2. Giải quyết vấn đề

Qua khảo sát, có thể nhận diện bốn phương diện tác động, trong đó hai phương diện đầu thuộc về cơ hội mở ra, hai phương diện sau thuộc về áp lực đặt ra.

2.1. Công nghệ tạo ra nhiều ngành nghề mới

Đây là tác động dễ nhận thấy nhất. Hàng loạt vị trí nghề nghiệp trước đây chưa từng tồn tại nay đã trở thành lựa chọn phổ biến: chuyên gia trí tuệ nhân tạo, kĩ sư học máy, chuyên gia khoa học dữ liệu, kĩ sư an ninh mạng.

Bên cạnh đó là nhóm nghề gắn với nền tảng số: nhà sáng tạo nội dung, chuyên viên marketing số, quản lí thương mại điện tử. Nhóm nghề này thu hút giới trẻ nhờ tính linh hoạt về thời gian và khả năng làm việc từ xa.

STT Ngành nghề Nhu cầu tuyển dụng
1 Chuyên gia trí tuệ nhân tạo Rất cao
2 Chuyên gia khoa học dữ liệu Cao
3 An ninh mạng Rất cao
4 Marketing số Cao
5 Sáng tạo nội dung số Trung bình

Bảng 1: Một số ngành nghề mới và mức độ nhu cầu tuyển dụng tại Việt Nam (Nguồn: TopDev, Báo cáo thị trường IT Việt Nam 2023).

Điểm đáng chú ý là danh mục này thay đổi rất nhanh. Nhiều nghề trong bảng trên mới chỉ xuất hiện khoảng một thập niên – điều đó nghĩa là học sinh hôm nay có thể sẽ làm những công việc chưa có tên gọi vào thời điểm các em chọn ngành.

2.2. Công nghệ thay đổi cách tiếp cận thông tin nghề nghiệp

Trước đây, học sinh tìm hiểu nghề nghiệp chủ yếu qua sách báo, lời tư vấn của thầy cô và cha mẹ, hoặc các buổi hướng nghiệp ở trường. Nay, kênh thông tin đã đảo chiều.

Mạng xã hội trở thành nơi người trẻ quan sát nghề nghiệp một cách trực tiếp: người đang làm nghề tự kể về công việc hằng ngày của mình. So với những mô tả nghề trong tài liệu hướng nghiệp, hình thức này sinh động hơn nhiều.

Các nền tảng tuyển dụng cho phép tra cứu yêu cầu công việc và mặt bằng thu nhập của từng ngành. Các khóa học trực tuyến còn cho phép “học thử” một lĩnh vực trước khi quyết định theo đuổi – điều làm giảm đáng kể rủi ro chọn sai ngành.

Tuy nhiên, sự dồi dào của thông tin cũng tạo ra vấn đề mới: khả năng phân biệt thông tin đáng tin với thông tin đã được tô vẽ. Đây là một kĩ năng mà nhà trường hiện chưa dạy một cách hệ thống.

2.3. Công nghệ thay đổi yêu cầu về kĩ năng

Nhà tuyển dụng ngày nay không chỉ đòi hỏi kiến thức chuyên môn. Kĩ năng số đã trở thành yêu cầu nền tảng ở hầu hết mọi ngành, kể cả những ngành không thuộc lĩnh vực công nghệ.

Quan trọng hơn là năng lực tự học và thích ứng. Trong bối cảnh công nghệ thay đổi nhanh, một phần kiến thức học ở trường có thể lỗi thời trước cả khi người học tốt nghiệp. Kèm theo đó, tư duy phản biện và khả năng sáng tạo được đề cao vì đây chính là những năng lực máy móc khó thay thế nhất.

Sự thay đổi này kéo theo một chuyển biến trong cách chọn nghề: người trẻ không chỉ hỏi “nghề này có phù hợp với tôi không” mà còn hỏi “nghề này còn tồn tại trong mười năm nữa không”.

2.4. Công nghệ tác động đến tâm lí và kì vọng nghề nghiệp

Đây là phương diện ít được nói đến nhưng có ảnh hưởng sâu.

Ở mặt tích cực, việc tiếp xúc thường xuyên với những câu chuyện khởi nghiệp thành công tạo động lực để nhiều bạn trẻ dám đặt mục tiêu lớn.

Ở mặt ngược lại, mạng xã hội tạo ra một môi trường so sánh liên tục. Nhiều học sinh, sinh viên lo lắng khi thấy bạn cùng lứa đã có thu nhập từ công việc trực tuyến trong khi mình vẫn đang đi học. Tâm lí ấy dễ dẫn đến những quyết định vội vàng – chọn nghề theo xu hướng chứ không theo năng lực.

Cần nói thêm rằng những gì hiển thị trên mạng xã hội thường là kết quả đã được chọn lọc, không phải toàn bộ quá trình. Việc so sánh mình với những hình ảnh ấy vì thế thiếu cơ sở ngay từ đầu.

3. Kết luận

Công nghệ đang tác động đến xu hướng chọn nghề của học sinh, sinh viên trên cả bốn phương diện: mở ra ngành nghề mới, thay đổi cách tiếp cận thông tin, thay đổi yêu cầu kĩ năng, và tác động đến tâm lí, kì vọng.

Điểm cần nhấn mạnh là bốn tác động ấy không tách rời mà nối tiếp nhau: có nhiều ngành nghề mới dẫn đến nhu cầu tìm hiểu thông tin lớn hơn; thông tin dồi dào lại làm gia tăng áp lực so sánh và lựa chọn. Nói cách khác, cơ hội và áp lực ở đây là hai mặt của cùng một hiện tượng, không thể nhận lấy mặt này mà tránh được mặt kia.

Từ kết quả nghiên cứu, có thể nêu một số khuyến nghị:

  • Với học sinh, sinh viên: tìm hiểu thông tin từ nhiều nguồn thay vì chỉ dựa vào mạng xã hội; ưu tiên rèn những năng lực nền tảng có giá trị lâu dài hơn là chạy theo một nghề đang được chú ý.
  • Với nhà trường và gia đình: cập nhật nội dung hướng nghiệp theo thực tế thị trường lao động, đồng thời dạy học sinh cách đánh giá độ tin cậy của thông tin nghề nghiệp.

Nghiên cứu này mới dừng ở việc tổng hợp tài liệu. Một hướng tìm hiểu tiếp theo đáng quan tâm là khảo sát trực tiếp học sinh cuối cấp tại một địa phương cụ thể, để đối chiếu xem những xu hướng nêu trên biểu hiện ra sao trong thực tế.

ThS. Nguyễn Thành Đạt

ThS. Nguyễn Thành Đạt

(Người kiểm duyệt, ra đề)

Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Ngữ Văn THPT

Trình độ: Thạc sĩ Ngữ Văn, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ CNTT, Ngoại ngữ B1

Kinh nghiệm: 10+ năm kinh nghiệm tại Trường THPT Hoàng Thế Thiện