Soạn Bài: Trở Gió (Nguyễn Ngọc Tư) (trang 44) Ngữ Văn 7 tập 1

Mục lục [Ẩn]

Chọn đến phần học sinh cần nhanh chóng thông qua mục lục bằng cách click đến phần đó

I. Tìm hiểu chung

1. Tác giả

Nguyễn Ngọc Tư sinh năm 1976, quê ở Cà Mau. Bà sáng tác thành công ở nhiều thể loại: truyện ngắn, tản văn, tiểu thuyết,… Văn của Nguyễn Ngọc Tư trong sáng, mộc mạc, thể hiện một tâm hồn tinh tế, nhạy cảm, giàu yêu thương. Tác phẩm tiêu biểu: Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư (2005), Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư (2005), Không ai qua sông (2016), Biên sử nước (2020),…

2. Tác phẩm

  • Xuất xứ: in trong Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư (NXB Trẻ, TP. Hồ Chí Minh, 2015).
  • Thể loại: tản văn (tạp bút).
  • Phương thức biểu đạt: biểu cảm (kết hợp tự sự, miêu tả).
  • Bố cục (2 phần):
    • Phần 1 (từ đầu đến “Ôi! Gió chướng”): hình ảnh gió chướng.
    • Phần 2 (còn lại): tình cảm, cảm xúc của nhân vật “tôi” khi gió chướng về.

3. Giá trị nội dung và nghệ thuật

  • Nội dung: thể hiện tình yêu và sự gắn bó tha thiết của tác giả với gió chướng và với quê hương; qua đó khơi gợi tình yêu quê hương trong lòng người đọc.
  • Nghệ thuật: ngôn ngữ giàu tính biểu cảm, giàu hình ảnh và nhạc điệu; sử dụng biện pháp nhân hóa, so sánh, điệp ngữ; mang đậm màu sắc Nam Bộ.

II. Sau khi đọc – Trả lời câu hỏi

Câu 1

Gió chướng được tác giả miêu tả qua những chi tiết, hình ảnh nào?

  • Âm thanh: hơi thở gió rất gần; “sẽ sàng từng giọt tinh tang, thoảng và e dè, như ai đó đứng đằng xa ngoắc tay nhẹ một cái”.
  • “Tính cách”, cảm xúc của gió: mừng húm, hừng hực, dạt dào, cồn cào, nồng nhiệt, dịu dàng.

→ Bằng biện pháp nhân hóa, so sánh, tác giả khiến gió chướng hiện lên sống động, gần gũi như một con người.

Câu 2

Chỉ ra những biểu hiện của tâm trạng “lộn xộn, ngổn ngang” ở nhân vật “tôi”. Lí do nào khiến “tôi” luôn mong ngóng, chờ đợi gió chướng?

  • Biểu hiện tâm trạng: vừa mừng vừa bực (“mừng đó rồi bực đó”); buồn vu vơ khó tả; lo sợ trước sự trôi chảy của thời gian (gió về là sắp hết năm, sắp già thêm một tuổi); cảm giác mất mát không rõ ràng nên vội vã trong mọi việc (gấp rãi ăn, gấp rãi nói, gấp rãi cười).
  • Lí do mong ngóng: với “tôi”, gió chướng là gió Tết (sắp được sắm quần áo, dép mới); mùa gió chướng cũng là mùa thu hoạch; hơn nữa, gió chướng gợi nhắc và gắn liền với quê hương.

Câu 3

Vì sao tác giả khẳng định “mùa gió chướng cũng là mùa thu hoạch”?

Vì khi gió chướng về, mùa màng, cây trái cũng vừa chín tới: lúa chín, mía kịp già (nước ngọt và trĩu nặng), vú sữa chín căng bóng, dưa hấu đủ độ thu hoạch. Đó là mùa bội thu, cây trái sum suê.

Câu 4

Câu văn cuối cùng của văn bản gợi cho em suy nghĩ gì?

Câu hỏi mở, em có thể chọn một trong các cách sau.

  • Cách 1: Câu văn cho em thấy nỗi nhớ quê da diết của tác giả. Dù nơi phố thị đủ đầy bánh chưng, bánh tét, dưa hành…, tác giả vẫn thấy thiếu vắng mùa gió chướng — tức thiếu đi hương vị quê hương thân thuộc.
  • Cách 2: Câu hỏi tu từ “có ai bán một mùa gió cho tôi?” thể hiện tình yêu quê hương sâu nặng. Mùa gió chướng là điều không gì thay thế được, gắn với kí ức và cội nguồn, nên dù đi xa tác giả vẫn luôn khắc khoải nhớ về.

Câu 5

Nêu cảm nhận của em về tình cảm, cảm xúc của tác giả được thể hiện trong văn bản.

Qua văn bản, em cảm nhận được tình yêu và sự gắn bó tha thiết của tác giả với gió chướng, với con người và cảnh sắc quê hương. Tác giả có tâm hồn tinh tế, nhạy cảm, có thể cảm nhận được cả những thay đổi rất nhỏ, rất khẽ của thiên nhiên cũng như của lòng người mỗi khi gió chướng về.

Thầy Nguyễn Thái Nhật Luật

Thầy Nguyễn Thái Nhật Luật

(Người kiểm duyệt, ra đề)

Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Ngữ Văn THCS

Trình độ: Cử nhân Sư phạm Ngữ Văn, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ B1

Kinh nghiệm: 8+ năm kinh nghiệm tại THCS Hồng Bàng