Chọn đến phần học sinh cần nhanh chóng thông qua mục lục bằng cách click đến phần đó
I. Tìm hiểu chung
1. Tác giả
Trin-ghi-dơ Ai-tơ-ma-tốp (1928 – 2008) là nhà văn người Cư-rơ-gư-dơ-xtan. Tác phẩm của ông chủ yếu viết về cuộc sống khắc nghiệt mà cũng rất giàu chất thơ ở quê hương: có núi đồi, thảo nguyên hoang sơ, hùng vĩ và những con người mạnh mẽ, can đảm, tâm hồn phóng khoáng. Lối viết của ông cô đọng, hàm súc, có nhiều cách tân độc đáo trong nghệ thuật kể chuyện. Một số tác phẩm: Gia-mi-li-a (1958), Cây phong non trùm khăn đỏ (1961), Người thầy đầu tiên (1962),…
2. Tác phẩm
- Xuất xứ: trích truyện vừa Người thầy đầu tiên (1962).
- Bối cảnh: cuộc sống ở một vùng quê miền núi còn rất lạc hậu ở Cư-rơ-gư-dơ-xtan vào những năm đầu thế kỉ XX.
- Thể loại: truyện ngắn (trích truyện vừa). Phương thức biểu đạt chính: tự sự.
- Nhân vật chính: An-tư-nai (cô bé mồ côi) và thầy Đuy-sen.
- Ngôi kể: ngôi thứ nhất (xưng “tôi”), có sự thay đổi người kể chuyện giữa các phần.
3. Bố cục (4 phần)
- Phần 1: Hình ảnh thầy Đuy-sen qua lời kể của người họa sĩ.
- Phần 2 và 3: Hình ảnh thầy Đuy-sen qua lời kể của An-tư-nai.
- Phần 4: Những ý tưởng của người họa sĩ cho bức tranh về thầy Đuy-sen.
4. Giá trị nội dung và nghệ thuật
- Nội dung: Đoạn trích khắc họa hình ảnh thầy Đuy-sen tận tụy, hết lòng vì học trò và tình cảm yêu mến, biết ơn của An-tư-nai dành cho thầy; qua đó ca ngợi tình thầy trò cao đẹp và phê phán những quan niệm lạc hậu.
- Nghệ thuật: ngôi kể thứ nhất; có sự thay đổi người kể chuyện giữa các phần; lối viết hấp dẫn; khắc họa nhân vật giản dị, gần gũi qua hành động, ngôn ngữ, tính cách.
II. Trước khi đọc
Hãy kể ngắn gọn về một thầy, cô giáo mà em đặc biệt yêu quý.
Đây là câu hỏi mở, em có thể kể về thầy cô của mình theo gợi ý sau hoặc tham khảo.
- Cách 1: Em yêu quý nhất cô giáo chủ nhiệm hồi lớp Sáu. Cô luôn quan tâm đến học trò, nhất là những bạn còn yếu; cô giảng bài hay và hay tổ chức trò chơi khởi động vui. Nhờ cô, lớp em tiến bộ nhiều và em luôn nhớ mãi.
- Cách 2: Người em yêu quý là thầy dạy Toán. Thầy nghiêm khắc nhưng rất tận tâm, luôn kiên nhẫn giảng lại cho đến khi em hiểu bài. Sự ân cần của thầy khiến em thêm yêu môn học và biết cố gắng hơn.
III. Trong khi đọc
1. Người kể chuyện ở đây (phần 1) là ai? Là người họa sĩ đồng hương với An-tư-nai.
2. Sự thay đổi nhân vật người kể chuyện: Sang phần (2), người kể chuyện chuyển thành An-tư-nai (cô tự kể lại kỉ niệm về thầy Đuy-sen).
3. Những chi tiết miêu tả sự quan tâm, chăm sóc học trò của thầy Đuy-sen: thầy bế các em nhỏ qua suối giữa mùa đông buốt giá; khi An-tư-nai bị chuột rút ngã xuống suối, thầy bế cô lên bờ, xoa hai chân tím bầm, ủ đôi tay lạnh cóng và hà hơi cho ấm.
4. Suy nghĩ, cảm xúc của An-tư-nai về mọi người, về thầy Đuy-sen: căm uất, muốn quát thẳng vào những kẻ giàu có chế giễu thầy; đồng thời cảm phục thầy vì thầy không để tâm đến lời lăng mạ mà vẫn kể chuyện vui cho học trò quên đi.
5. Hình ảnh thầy Đuy-sen trong kí ức của An-tư-nai: thầy đứng giữa dòng suối đá, hai tay để sau gáy, đôi mắt sáng long lanh nhìn theo những đám mây trắng xa tít, mơ ước gửi An-tư-nai ra thành phố lớn học hành.
6. Tình cảm của An-tư-nai và các học trò dành cho thầy Đuy-sen: yêu mến thầy vì tấm lòng nhân từ, những ý nghĩ tốt lành và ước mơ của thầy; An-tư-nai còn ao ước thầy là anh ruột của mình.
7. Người kể chuyện ở phần (4) là ai? Vẫn là người họa sĩ đồng hương với An-tư-nai.
8. Suy luận: Người kể chuyện băn khoăn, trăn trở về điều gì? Băn khoăn vì bức tranh về người thầy đầu tiên vẫn chưa hoàn thành, sợ rằng “sẽ chẳng ra gì hết”, chưa tìm được ý tưởng ưng ý nhất để thể hiện.
IV. Sau khi đọc – Trả lời câu hỏi
Câu 1
Xác định người kể chuyện và ngôi kể trong từng phần của đoạn trích.
- Phần (1) và (4): người kể chuyện là người họa sĩ đồng hương với An-tư-nai.
- Phần (2) và (3): người kể chuyện là An-tư-nai.
- Cả 4 phần đều dùng ngôi kể thứ nhất (người kể xưng “tôi”).
Câu 2
Các nhân vật người kể chuyện trong đoạn trích có quan hệ với nhau như thế nào?
Hai nhân vật người kể chuyện (người họa sĩ và An-tư-nai) có quan hệ đồng hương: đều sinh ra, lớn lên ở làng Ku-ku-rêu, hiện cùng sống ở Mát-xcơ-va, quen biết nhau và cùng được mời về dự lễ khánh thành ngôi trường mới của quê hương.
Câu 3
Qua cuộc trò chuyện giữa các bạn nhỏ và thầy Đuy-sen ở phần (2), em hình dung như thế nào về hoàn cảnh sống của An-tư-nai?
An-tư-nai là một đứa trẻ mồ côi, phải sống với chú thím, không được chăm sóc, yêu thương. Cuộc sống của cô thiếu thốn cả về vật chất lẫn tình cảm.
Câu 4
Đọc kĩ phần (3) và trả lời các câu hỏi sau.
a. Hình ảnh thầy Đuy-sen hiện lên qua lời kể, cảm xúc và suy nghĩ của nhân vật nào?
Qua lời kể, cảm xúc và suy nghĩ của nhân vật An-tư-nai.
b. Những chi tiết tiêu biểu khắc họa nhân vật thầy Đuy-sen:
- Ngôn ngữ: trò chuyện, thuyết phục các em nhỏ đi học; động viên, khích lệ An-tư-nai.
- Hành động: một mình sửa nhà kho cũ thành lớp học; bế các em nhỏ qua suối giữa mùa đông; kiên trì dạy chữ bất chấp hoàn cảnh thiếu thốn, khắc nghiệt; mơ ước về tương lai tươi sáng cho học trò.
- Cảm xúc của An-tư-nai về thầy: cảm nhận được lòng nhân hậu, tình yêu thương của thầy; mong ước thầy là người ruột thịt.
c. Khái quát đặc điểm tính cách thầy Đuy-sen:
Thầy có mục đích sống cao đẹp, cương nghị, kiên nhẫn, nhân hậu, vị tha; nổi bật nhất là tình yêu thương, hết lòng vì học trò.
Câu 5
An-tư-nai đã dành cho thầy Đuy-sen tình cảm như thế nào? Nhờ “người thầy đầu tiên” ấy, cuộc đời An-tư-nai đã thay đổi ra sao?
- Tình cảm: An-tư-nai dành cho thầy tình cảm yêu mến, ngưỡng mộ và biết ơn; cô còn ước thầy là anh ruột của mình.
- Sự thay đổi: nhờ thầy Đuy-sen, An-tư-nai có cơ hội lên thành phố học tập và sau này trở thành một viện sĩ nổi tiếng.
Câu 6
Ở phần (4), nhân vật người họa sĩ đã có những ý tưởng gì cho bức tranh vẽ thầy Đuy-sen? Em ủng hộ ý tưởng nào?
- Các ý tưởng:
- Vẽ hai cây phong do thầy Đuy-sen và An-tư-nai trồng, cùng một đứa trẻ với đôi mắt hân hoan nhìn vào cõi xa xăm kì ảo.
- Vẽ cảnh thầy Đuy-sen bế trẻ em qua con suối mùa đông.
- Vẽ khoảnh khắc thầy Đuy-sen tiễn An-tư-nai lên tỉnh.
- Ý tưởng em ủng hộ (đây là câu hỏi mở, em có thể chọn một trong các cách sau):
- Cách 1: Em ủng hộ ý tưởng vẽ thầy Đuy-sen tiễn An-tư-nai lên tỉnh, vì nó diễn tả được tiếng gọi cất lên từ tâm hồn thầy mà đến nay An-tư-nai vẫn còn nghe vẳng lại, vang dội mãi trong lòng mỗi người.
- Cách 2: Em ủng hộ ý tưởng vẽ cảnh thầy bế các em qua suối mùa đông, vì hình ảnh ấy thể hiện rõ nhất tấm lòng yêu thương, sự hi sinh thầm lặng của thầy dành cho học trò.
Câu 7
Theo em, cách nhà văn thay đổi kiểu người kể chuyện ở các phần trong đoạn trích có tác dụng gì?
Việc thay đổi người kể chuyện giúp câu chuyện được soi chiếu từ nhiều điểm nhìn khác nhau, nhờ đó trở nên phong phú, hấp dẫn và chứa đựng nhiều ý nghĩa hơn; đồng thời làm nổi bật hình ảnh thầy Đuy-sen và tình cảm của An-tư-nai.
V. Viết kết nối với đọc
Viết đoạn văn (khoảng 5 – 7 câu) kể lại nội dung của phần (1) hoặc phần (4) bằng lời của người kể chuyện ngôi thứ ba.
Đoạn văn tham khảo 1 (kể lại phần 1):
Mùa thu năm ngoái, người họa sĩ nhận được một bức điện từ làng gửi đến, mời ông về dự lễ khánh thành ngôi trường mới. Ông lập tức quyết định về làng, thậm chí về sớm vài ngày để dạo quanh, ngắm cảnh và vẽ kí họa. Tại buổi lễ, ông gặp lại bà viện sĩ An-tư-nai Xu-lai-ma-nô-va, người đồng hương của mình. Ít lâu sau khi ông trở lại thành phố, bà gửi cho ông một lá thư, kể lại câu chuyện cuộc đời mình và khẩn khoản nhờ ông kể lại cho mọi người, nhất là thế hệ trẻ, cùng biết. Cảm động trước lá thư ấy, người họa sĩ đã quyết định thay mặt bà kể lại toàn bộ câu chuyện.
Đoạn văn tham khảo 2 (kể lại phần 4):
Trong buổi sớm tĩnh mịch, người họa sĩ mở tung cửa sổ rồi đứng ngắm lại những bản phác thảo cho bức tranh ông đang vẽ dở. Ông đã vẽ đi vẽ lại nhiều lần nhưng vẫn chưa hài lòng, bởi bức tranh mới chỉ là một ý đồ. Ông trăn trở mãi vì biết mình không thể không vẽ bức tranh về người thầy đầu tiên của làng. Trong đầu ông hiện lên nhiều ý tưởng: vẽ hai cây phong của thầy Đuy-sen và An-tư-nai, vẽ cảnh thầy bế trẻ em qua suối, hay vẽ lúc thầy tiễn An-tư-nai lên tỉnh. Ông mong sao bức tranh ấy sẽ vang lên như tiếng gọi của thầy Đuy-sen, vang dội mãi trong lòng mỗi người.

Thầy Nguyễn Thái Nhật Luật
(Người kiểm duyệt, ra đề)
Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Ngữ Văn THCS
Trình độ: Cử nhân Sư phạm Ngữ Văn, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ B1
Kinh nghiệm: 8+ năm kinh nghiệm tại THCS Hồng Bàng
