Soạn Bài: Thực hành tiếng Việt (trang 47) – Ngữ Văn 7 tập 1

Mục lục [Ẩn]

Chọn đến phần học sinh cần nhanh chóng thông qua mục lục bằng cách click đến phần đó

I. Lý thuyết trọng tâm

1. Nghĩa của từ và cách giải nghĩa từ

  • Nghĩa của từ là nội dung (sự vật, hoạt động, tính chất, quan hệ,…) mà từ biểu thị.
  • Một số cách giải nghĩa từ:
    • Trình bày khái niệm mà từ biểu thị. Ví dụ: ấm áp = cảm giác dễ chịu, không lạnh lẽo.
    • Đưa ra từ đồng nghĩa hoặc trái nghĩa. Ví dụ: siêng năng = chăm chỉ (đồng nghĩa); lạc quan trái nghĩa với bi quan.
    • Giải nghĩa từng thành tố (thường dùng với từ Hán Việt). Ví dụ: khán giả (khán: xem, giả: người) = người xem.

2. Biện pháp tu từ: điệp ngữ, so sánh, nhân hóa

  • Điệp ngữ: lặp lại một từ/cụm từ nhằm nhấn mạnh, liệt kê, khẳng định và tạo nhịp điệu. Ví dụ: gấp rãi ăn, gấp rãi nói, gấp rãi cười.
  • So sánh: đối chiếu sự vật, sự việc này với sự vật, sự việc khác có nét tương đồng để tăng sức gợi hình, gợi cảm. Ví dụ: âm thanh ấy… như ai đó đứng đằng xa ngoắc tay nhẹ một cái.
  • Nhân hóa: gọi hoặc tả vật bằng những từ ngữ vốn dùng cho con người, khiến chúng sống động, gần gũi. Ví dụ: nắng thức rất trễ; hơi thở gió rất gần.

II. Trả lời câu hỏi

Câu 1

Em có nhận xét gì về cách dùng từ gặp trong nhan đề bài thơ Gặp lá cơm nếp?

Cách dùng từ gặp hợp lí và sáng tạo: gặp cho thấy việc người con trông thấy lá cơm nếp là chuyện tình cờ. Nếu thay bằng bắt gặp hay phát hiện thì số tiếng của nhan đề bị thay đổi, mất đi nhạc tính và chất thơ. Từ gặp vốn thường dùng cho cuộc gặp gỡ giữa người với người, nay dùng với “lá cơm nếp” — một dụng ý nghệ thuật gợi sự thân thương, gắn bó.

Câu 2

Nêu cách hiểu của em về cụm từ thơm suốt đường con trong khổ thơ.

  • Mùi hương cơm nếp phảng phất theo suốt con đường người con hành quân.
  • Đó không hẳn là mùi hương có thật, mà là mùi hương trong nỗi nhớ, tâm tưởng — nỗi nhớ mẹ, nhớ quê hương cứ theo người con trên mỗi chặng đường.

→ Từ thơm đã trở thành biểu tượng cho hương vị quê nhà và tình cảm gia đình thân thương.

Câu 3

mùi vị thức ăn, mùi vị trái chín, mùi vị của nước giải khát,… Nghĩa của mùi vị trong các trường hợp đó có giống với mùi vị trong cụm từ mùi vị quê hương không? Vì sao?

Câu hỏi mở, em có thể chọn một trong các cách trả lời sau.

  • Cách 1 (không giống nhau): Trong mùi vị thức ăn, trái chín, nước giải khát, từ mùi vị chỉ hương vị cụ thể của đồ ăn, thức uống mà ta cảm nhận bằng vị giác, khứu giác. Còn mùi vị quê hương lại được cảm nhận bằng trái tim, tâm hồn, mang nghĩa trừu tượng.
  • Cách 2 (vừa giống vừa khác): Giống ở chỗ mùi vị quê hương cũng bao hàm mùi vị của thức ăn, trái chín… Khác ở chỗ thức ăn, trái chín là những sự vật cụ thể, có mùi vị thực; còn quê hương là khái niệm trừu tượng — mùi vị quê hương là cách chuyển đổi cảm giác để nói về những nét đặc trưng của quê hương.

Câu 4

Nêu nhận xét về cách kết hợp giữa các từ trong hai dòng thơ Mẹ già và đất nước / Chia đều nỗi nhớ thương. Hiệu quả của cách kết hợp đó là gì?

Cách kết hợp đặt mẹ giàđất nước trong mối tương quan ngang hàng, cùng được “chia đều nỗi nhớ thương”, tạo nên sự liên kết chặt chẽ và dòng cảm xúc sâu lắng. → Hiệu quả: cho thấy với người lính, mẹ và đất nước đều thiêng liêng, quan trọng như nhau; qua đó diễn tả chiều sâu tâm tư, tình cảm của người con.

Câu 5

Chỉ ra các biện pháp tu từ trong những câu sau và nêu tác dụng.

  • a. Điệp ngữ “gấp rãi” (gấp rãi ăn, gấp rãi nói, gấp rãi cười…) và so sánh “như ai đó đuổi theo đằng sau”. → Tác dụng: nhấn mạnh sự gấp gáp, vội vã trong tâm trạng, hành động của nhân vật; cụ thể hóa cảm giác mơ hồ, tăng sức gợi cho câu văn.
  • b. So sánh “như ai đó đứng đằng xa ngoắc tay nhẹ một cái” và nhân hóa “e dè”, “ngại ngần”. → Tác dụng: cụ thể hóa âm thanh của gió, đồng thời khiến gió hiện lên sống động, có tâm trạng nhẹ nhàng, rụt rè như con người.

Câu 6

Trong những câu sau, biện pháp tu từ nhân hóa mang lại hiệu quả gì?

  • a. Nhân hóa “nắng thức rất trễ”, “mặt trời ngai ngái lơi lơi”. → Làm cảnh vật thiên nhiên trở nên có hồn, sống động như con người; tăng sức gợi hình, gợi cảm.
  • b. Nhân hóa “hơi thở gió rất gần”. → Khiến gió cũng có hơi thở, sức sống như con người; làm không gian thêm sinh động và thể hiện sự gắn bó của tác giả với cảnh sắc quê hương.
Thầy Nguyễn Thái Nhật Luật

Thầy Nguyễn Thái Nhật Luật

(Người kiểm duyệt, ra đề)

Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Ngữ Văn THCS

Trình độ: Cử nhân Sư phạm Ngữ Văn, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ B1

Kinh nghiệm: 8+ năm kinh nghiệm tại THCS Hồng Bàng