Soạn Bài: Đẽo cày giữa đường, Ếch ngồi đáy giếng, Con mối và con kiến (trang 6) Ngữ Văn 7 tập 2

Mục lục [Ẩn]

Chọn đến phần học sinh cần nhanh chóng thông qua mục lục bằng cách click đến phần đó

I. Tìm hiểu chung

Truyện ngụ ngôn là hình thức tự sự cỡ nhỏ, mượn chuyện loài vật, đồ vật hoặc con người để nêu lên bài học đạo lí, kinh nghiệm sống. Ví dụ: truyện Ếch ngồi đáy giếng mượn chuyện con ếch để khuyên người ta không nên chủ quan, kiêu ngạo.

1. Đẽo cày giữa đường

  • Xuất xứ: theo Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc, Truyện cổ nước Nam, tập I.
  • Thể loại: truyện ngụ ngôn (văn xuôi). Phương thức biểu đạt: tự sự (kết hợp miêu tả). Ngôi kể: thứ ba.
  • Bố cục: 2 phần (người thợ mộc đẽo cày để bán / những lần góp ý và phản ứng của người thợ mộc).

2. Ếch ngồi đáy giếng

  • Tác giả: Trang Tử (khoảng 369 – 286 TCN), triết gia nổi tiếng của Trung Quốc.
  • Xuất xứ: trích thiên Thu thủy (thiên thứ 17) của sách Trang Tử. Thể loại: truyện ngụ ngôn. Ngôi kể: thứ ba.

3. Con mối và con kiến

  • Tác giả: Nam Hương (1899 – 1960), quê ở Hà Nội, sáng tác nhiều thơ ngụ ngôn.
  • Xuất xứ: in trong Tuyển tập văn học dân gian Việt Nam. Thể loại: truyện ngụ ngôn bằng thơ (song thất lục bát) — mượn chuyện loài vật để khuyên nhủ con người.

II. Trước khi đọc

Câu 1. Kể một câu chuyện hoặc sự việc đã để lại cho em bài học sâu sắc và nêu bài học đó.

Câu hỏi mở, em có thể chọn một trong các cách sau:

  • Cách 1: Truyện Thầy bói xem voi dạy em phải nhìn nhận sự việc một cách toàn diện, không lấy cái bộ phận để đánh giá toàn thể.
  • Cách 2: Một lần em vội tin lời bạn mà không kiểm tra lại nên làm sai bài tập. Em rút ra bài học: phải tự suy nghĩ, kiểm chứng trước khi tin và làm theo.

Câu 2. Cách hiểu câu nói “Anh ta nhận ra mình chỉ là ếch ngồi đáy giếng mà thôi”.

Câu nói ý chỉ một người nhận ra hiểu biết của mình còn rất hạn hẹp, nông cạn, trong khi trước đó lại chủ quan, tự cho mình là giỏi — giống con ếch chỉ nhìn bầu trời qua miệng giếng.

III. Trong khi đọc

Đẽo cày giữa đường

  • Số tiền mua gỗ: ba trăm quan tiền.
  • Hành động mỗi khi nhận lời khuyên: ai nói gì cũng cho là phải và làm theo ngay (đẽo to – cao, rồi nhỏ – thấp, rồi to gấp năm gấp bảy).
  • Vì sao không bán được cày? Vì anh ta làm theo lời mọi người mà không có chính kiến, những chiếc cày đẽo ra không phù hợp với nhu cầu thực tế.

Ếch ngồi đáy giếng

  • Khác nhau về môi trường sống: ếch ở giếng sụp nhỏ hẹp; rùa ở biển đông mênh mông, sâu thẳm.
  • Điều khiến ếch sung sướng: tự do ra vào giếng, bơi trong nước, nhảy xuống bùn; thấy mình hơn các con vật nhỏ; một mình làm chủ một vùng nước.
  • Biểu hiện của ếch khi nghe về biển: ngạc nhiên, thu mình lại, hoảng hốt, bối rối.

Con mối và con kiến

  • Thái độ của mối khi thấy kiến vất vả: coi thường, chế giễu (cho rằng kiến làm nhiều mà vẫn gầy, còn mình chẳng làm gì vẫn béo tròn).
  • Thái độ của kiến về lối sống của mối: không đồng tình, phê phán lối sống lười nhác, đục khoét, hưởng thụ; khẳng định “có làm thì mới có ăn”.
  • Hậu quả lối sống của mối: đục rỗng nhà cửa khiến nhà đổ, tự chuốc lấy họa diệt vong (“Nhà kia đổ xuống đi đời các anh”).

IV. Sau khi đọc – Trả lời câu hỏi

Câu 1. Trước mỗi lời khuyên, người thợ mộc đều cho là phải và làm theo ngay mà không suy xét. Kết quả: không bán được cày, gỗ hỏng, vốn liếng mất sạch; anh ta nhận ra “dễ nghe người là dại” nhưng đã quá muộn.

Câu 2. Nếu là người thợ mộc, em sẽ làm gì? (câu hỏi mở)

  • Cách 1: Em sẽ cảm ơn các góp ý nhưng cân nhắc, chọn lọc; ý nào hợp lí mới làm theo, ý không phù hợp thì bỏ qua.
  • Cách 2: Em sẽ giữ vững mục tiêu ban đầu, tìm hiểu nhu cầu thực tế của người mua rồi mới quyết định, không thay đổi theo mọi lời bàn.

Câu 3. Ếch cảm thấy sung sướng vì: được tự do ra vào giếng, bơi trong nước, nhảy xuống bùn; thấy các con vật khác (lăng quăng, cua, nòng nọc) không con nào bằng mình; một mình làm “chúa tể” một vùng nước trong giếng.

Câu 4.

  • Môi trường sống: ếch ở giếng sụp nhỏ hẹp, nước tù; rùa ở biển đông mênh mông, sâu thẳm.
  • Ảnh hưởng: sống trong không gian hẹp nên ếch hiểu biết nông cạn, tự mãn, cho mình là nhất; sống ở biển rộng nên rùa hiểu biết sâu rộng, suy nghĩ thấu đáo, khiêm tốn. → Môi trường sống ảnh hưởng đến nhận thức và cảm xúc của mỗi con vật.

Câu 5. Vì khi nghe rùa kể về biển đông, ếch nhận ra thế giới bên ngoài rộng lớn vô cùng, còn hiểu biết của mình quá nhỏ bé; nó choáng ngợp và xấu hổ vì trước đó đã huênh hoang, khoe khoang.

Câu 6. Quan niệm sống bộc lộ qua lời thoại:

  • Mối: lười nhác, chỉ thích hưởng thụ; coi thường lao động (“Tội tình gì lao khổ lắm thay!”), tự đắc vì mình “béo trục béo tròn”, nhà cao cửa rộng.
  • Kiến: chăm chỉ, sống có trách nhiệm; quan niệm “có làm thì mới có ăn”, chấp nhận gầy gò vì lo “vì đàn vì tổ”, biết lo xa cho sự bền vững.

Câu 7. Thiện cảm của người kể chuyện dành cho kiến. Vì mối được miêu tả là kẻ lười biếng, ích kỉ, chỉ biết hưởng thụ và phá hoại; còn kiến tuy gầy gò, vất vả nhưng chăm chỉ, sống vì tập thể, biết lo cho tương lai. Lời của kiến ở cuối truyện cũng là lời cảnh tỉnh đúng đắn.

Câu 8. Điểm giống nhau về nội dung của ba truyện:

  • Đều là truyện ngụ ngôn, mượn chuyện loài vật hoặc con người để gửi gắm bài học.
  • Đều đúc kết bài học, kinh nghiệm sống: Đẽo cày giữa đường – phải có chính kiến, tiếp thu có chọn lọc; Ếch ngồi đáy giếng – phải khiêm tốn, mở rộng hiểu biết, không chủ quan kiêu ngạo; Con mối và con kiến – phải chăm chỉ lao động, sống vì tập thể thì cuộc sống mới bền vững.

V. Viết kết nối với đọc

Viết đoạn văn (khoảng 5 – 7 câu) có sử dụng thành ngữ đẽo cày giữa đường.

Giải thích nhanh: thành ngữ đẽo cày giữa đường chỉ những người không có chính kiến, ai nói gì cũng nghe theo nên cuối cùng thất bại.

Đoạn văn tham khảo 1:

Trong cuộc sống, mỗi người cần có chính kiến của riêng mình. Nếu cứ ai nói gì cũng nghe theo thì sẽ giống như anh thợ mộc đẽo cày giữa đường, cuối cùng chẳng làm nên việc gì. Lắng nghe góp ý là điều tốt, nhưng ta phải biết suy xét, chọn lọc điều đúng đắn. Khi đã xác định được mục tiêu, em sẽ kiên trì thực hiện chứ không dao động trước mọi lời bàn tán. Có như vậy, công việc mới đạt được kết quả như mong muốn.

Đoạn văn tham khảo 2:

Lớp em từng giao cho bạn Nam thiết kế tấm bích báo của tổ. Nhưng bạn nào góp ý gì Nam cũng sửa theo, hết thay màu lại đổi kiểu chữ, chẳng khác nào đẽo cày giữa đường. Đến hạn nộp, tấm bích báo vẫn dang dở và rối tung. Qua chuyện đó, chúng em hiểu rằng phải có lập trường và biết tiếp thu ý kiến một cách chọn lọc. Tự tin vào quyết định đúng đắn của mình chính là cách để hoàn thành tốt công việc.

Thầy Nguyễn Thái Nhật Luật

Thầy Nguyễn Thái Nhật Luật

(Người kiểm duyệt, ra đề)

Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Ngữ Văn THCS

Trình độ: Cử nhân Sư phạm Ngữ Văn, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ B1

Kinh nghiệm: 8+ năm kinh nghiệm tại THCS Hồng Bàng