Chọn đến phần học sinh cần nhanh chóng thông qua mục lục bằng cách click đến phần đó
I. Đọc
Chọn phương án đúng
Câu 1. Văn bản trên thuộc loại văn bản gì?
Đáp án: B. Văn bản nghị luận.
Câu 2. Theo tác giả, mỗi người cần “tự chịu trách nhiệm” về những sai lầm của bản thân để đạt được mục đích chính gì?
Đáp án: C. Đạt được thành công về sau.
Trả lời câu hỏi
Câu 1. Vẽ sơ đồ đơn giản thể hiện mối quan hệ giữa vấn đề đặt ra và các ý kiến, lí lẽ, bằng chứng được tác giả trình bày.
Vấn đề: Ý thức tự chịu trách nhiệm là yếu tố quyết định sự thành – bại của mỗi người.
- Ý kiến 1: Trước thất bại, người thành công tìm nguyên nhân ở bản thân, còn kẻ thất bại đổ lỗi cho hoàn cảnh. → Bằng chứng: câu “Tiên trách kỉ, hậu trách nhân”; lời dạy của Khổng Tử.
- Ý kiến 2: Tự chịu trách nhiệm là ý thức được kết quả hôm nay do chính những lựa chọn, hành động của mình trong quá khứ.
- Ý kiến 3: Dám tự chịu trách nhiệm thì chủ động, tự tin thay đổi hoàn cảnh; còn biện minh, đổ lỗi thì bị động, yếu đuối và phải trả giá.
- Kết luận: Con người không đổi được hoàn cảnh nhưng có thể tự thay đổi bản thân; cần nhìn thẳng vào trách nhiệm để không ngừng hoàn thiện mình.
Câu 2. Phân tích cách triển khai, củng cố lí lẽ mà tác giả đã sử dụng trong đoạn 3 của văn bản.
Ở đoạn 3 (đoạn bàn về việc “dám tự chịu trách nhiệm”), tác giả triển khai lí lẽ theo lối tương phản: một bên là người dám chịu trách nhiệm — chủ động, tự chủ, đầy quyền lực để thay đổi hoàn cảnh; bên kia là người biện minh, đổ lỗi — bị động, yếu đuối, bất lực và phải trả giá đắt. Để củng cố lí lẽ, tác giả dẫn câu của cổ nhân “Tiên trách kỉ, hậu trách nhân” và lời dạy của Khổng Tử làm bằng chứng, giúp lập luận thêm uy tín và thuyết phục. Cuối đoạn, tác giả chốt lại bằng lời khuyên: không nên viện dẫn lí do để biện minh cho thất bại. Cách triển khai ấy khiến đoạn văn mạch lạc, chặt chẽ và giàu sức thuyết phục.
Câu 3. Nêu suy nghĩ của em về nhận định: “Chỉ khi nhìn thẳng vào thiếu sót của bản thân mới có cơ hội tự sửa mình và có thái độ khoan dung với lỗi lầm của người khác để thiết lập những mối quan hệ tốt, hướng tới điều tốt đẹp hơn.”
Em hoàn toàn đồng tình với nhận định này. Mỗi người sinh ra đều không hoàn hảo và khó tránh khỏi sai lầm. Chỉ khi dám nhìn thẳng vào thiếu sót của mình, ta mới tìm được cách sửa chữa và biến những sai lầm thành bài học để trưởng thành. Hơn nữa, người biết nhận ra lỗi của bản thân cũng sẽ dễ thông cảm, khoan dung hơn với lỗi lầm của người khác, nhờ đó giữ được những mối quan hệ tốt đẹp. Ngược lại, nếu chỉ biết biện minh, đổ lỗi thì cái sai không được sửa mà còn gây thêm mâu thuẫn. Vì vậy, dám nhìn nhận thiếu sót chính là bước đầu để mỗi người hoàn thiện mình và hướng tới điều tốt đẹp hơn.
Câu 4. Trong các thành ngữ, tục ngữ đã cho, câu nào có nội dung liên quan tới thông điệp của văn bản? Vì sao?
Các câu có liên quan đến thông điệp của văn bản: Dám làm dám chịu; Mình làm mình chịu, kêu mà ai thương; Chân mình thì lấm bê bê / Lại cầm bó đuốc đi rê chân người.
- Dám làm dám chịu: đã làm việc gì thì dám gánh vác trách nhiệm về kết quả – đúng với tinh thần tự chịu trách nhiệm.
- Mình làm mình chịu, kêu mà ai thương: tự chịu trách nhiệm về việc mình làm, không oán trách ai.
- Chân mình thì lấm bê bê / Lại cầm bó đuốc đi rê chân người: phê phán kẻ không nhận lỗi của mình mà chỉ soi lỗi người khác — liên quan vì cùng bàn về thái độ trách nhiệm và đổ lỗi.
Riêng câu Cắn răng chịu đựng chỉ nói về sự nhẫn nhịn, chịu đựng nên không liên quan đến thông điệp về tự chịu trách nhiệm.
Câu 5. Nêu cách hiểu về nghĩa của các yếu tố Hán Việt và giải thích nghĩa các từ: cầu tiến, vị thế, viện dẫn.
- Cầu tiến: cầu = mong, xin; tiến = tiến bộ, tiến lên → cầu tiến: mong muốn tiến bộ, vươn lên.
- Vị thế: vị = vị trí, địa vị; thế = thế, hoàn cảnh → vị thế: vị trí, địa vị của một người trong tương quan với người khác hoặc hoàn cảnh.
- Viện dẫn: viện = nhờ đến, dựa vào; dẫn = dẫn ra, đưa ra → viện dẫn: đưa ra lí lẽ, sự việc để làm căn cứ, chứng minh.
II. Viết
Viết đoạn văn (khoảng 5 – 7 câu) bày tỏ suy nghĩ của em về những con người dám nhận trách nhiệm trước sai lầm, thất bại do chính họ gây ra.
Đoạn văn tham khảo 1:
Trong cuộc sống, ai cũng có lúc mắc sai lầm, nhưng không phải ai cũng dám đứng ra nhận trách nhiệm về mình. Những người dám nhận lỗi trước thất bại do chính họ gây ra là những người dũng cảm và trung thực. Khi thẳng thắn nhìn nhận thiếu sót, họ mới có thể rút kinh nghiệm, sửa chữa và ngày càng hoàn thiện bản thân. Thái độ ấy còn giúp họ được mọi người xung quanh tin tưởng, yêu quý và kính trọng. Ngược lại, kẻ chỉ biết đổ lỗi cho hoàn cảnh sẽ mãi giậm chân tại chỗ. Vì vậy, dám nhận trách nhiệm chính là một phẩm chất đáng quý mà mỗi chúng ta cần rèn luyện.
Đoạn văn tham khảo 2:
Em rất khâm phục những con người dám nhận trách nhiệm trước sai lầm và thất bại do chính mình gây ra. Bởi dám nhận lỗi không hề dễ dàng, nó đòi hỏi sự trung thực và bản lĩnh. Người biết tự chịu trách nhiệm sẽ không mất thời gian biện minh hay oán trách, mà tập trung tìm cách khắc phục và làm lại. Nhờ đó, họ trưởng thành hơn sau mỗi vấp ngã và dần tiến gần đến thành công. Trong lớp em, bạn lớp trưởng từng dũng cảm nhận lỗi khi tổ chức hoạt động chưa tốt, rồi cố gắng sửa sai và được cả lớp tin yêu hơn. Em nghĩ mỗi người đều nên học cách dám nhận trách nhiệm như vậy.
III. Nói và nghe
Lập dàn ý cho bài nói về vấn đề: Điều em muốn chuẩn bị cho bước đường tương lai của mình.
- Mở bài: giới thiệu về tương lai phía trước và điều em muốn chuẩn bị cho con đường đó.
- Thân bài:
- Vai trò của việc xác định rõ những điều cần chuẩn bị cho tương lai.
- Những điều em muốn chuẩn bị (ví dụ: kiến thức, sức khỏe, kĩ năng sống, thái độ tích cực…).
- Lí do em chọn chuẩn bị những điều đó.
- Những hành động cụ thể em sẽ làm để thực hiện dự định.
- Kết bài: thể hiện quyết tâm của bản thân và mong các bạn cùng chuẩn bị cho tương lai.

Thầy Nguyễn Thái Nhật Luật
(Người kiểm duyệt, ra đề)
Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Ngữ Văn THCS
Trình độ: Cử nhân Sư phạm Ngữ Văn, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ B1
Kinh nghiệm: 8+ năm kinh nghiệm tại THCS Hồng Bàng
