Chọn đến phần học sinh cần nhanh chóng thông qua mục lục bằng cách click đến phần đó
I. Lý thuyết trọng tâm
1. Biện pháp tu từ điệp thanh
a) Khái niệm: Điệp thanh là biện pháp tu từ ngữ âm, tạo nên bằng cách lặp lại thanh điệu cùng loại (thanh bằng hoặc thanh trắc) để làm tăng tính nhạc, nâng cao hiệu quả diễn đạt.
b) Hai cách tạo nên điệp thanh:
Cách 1: Lặp lại một loạt âm tiết có cùng thanh điệu (toàn thanh bằng hoặc toàn thanh trắc).
Ô! Đêm nay trời trong như gương Không làn mây vương không hơi sương. (Hàn Mặc Tử, Tiêu sầu)
→ Hai câu thơ toàn thanh bằng đem lại âm hưởng nhẹ nhàng, êm dịu, như tiếng lòng của thi nhân muốn dịu lại, vơi đi những nỗi sầu.
Cách 2: Lặp lại thanh điệu theo từng nhóm âm tiết.
Đầm mưa xuống, nẻo đồi mưa xuống. (Bích Khê, Tiếng đàn mưa)
→ Câu thơ có hai nhóm âm tiết giống nhau về thứ tự thanh điệu: bằng – bằng – trắc (đầm mưa xuống / đồi mưa xuống). Điệp thanh kết hợp với cách ngắt nhịp tạo nên tính nhạc, đồng thời giúp người đọc cảm nhận những giọt mưa đang rơi mau ở khắp chốn.
2. Biện pháp tu từ điệp vần
a) Khái niệm: Điệp vần là biện pháp tu từ ngữ âm, sử dụng những âm tiết có vần giống nhau nhằm tạo ra sự trùng điệp về âm hưởng, tăng tính nhạc để biểu đạt cảm xúc của người viết (người nói), đồng thời gây ấn tượng thẩm mĩ cho người đọc (người nghe).
b) Vị trí xuất hiện điệp vần:
Vị trí 1: Ở các âm tiết gieo vần (vần chân – cuối câu thơ; vần lưng – giữa câu thơ).
Năm gian nhà cỏ thấp le te, Ngõ tối đêm sâu đóm lập loè. Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt, Làn ao lóng lánh bóng trăng loe. Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt, Mắt lão không vầy cũng đỏ hoe. Rượu tiếng rằng hay hay chẳng mấy, Độ năm ba chén đã say nhè. (Nguyễn Khuyến, Thu ẩm)
→ Vần “e” (hoặc “oe”) gieo ở cuối các câu lẻ làm tăng ấn tượng về cái lè nhè của người say rượu.
Vị trí 2: Ở những âm tiết không đóng vai trò gieo vần – tạo sự trùng điệp về âm hưởng, tăng nhạc tính.
Lá bàng đang đỏ ngọn cây Sếu giang mang lạnh đang bay ngang trời. (Tố Hữu, Tiếng hát sang xuân)
→ Vần “ang” lặp lại nhiều lần tạo âm hưởng mênh mang, rộng mở.
II. Luyện tập
Bài tập 1 (trang 47 – 48): Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ điệp thanh trong các trường hợp dưới đây.
a. Khóc anh không nước mắt Mà lòng đau như thắt Gọi anh chửa thành lời Mà hàm răng dính chặt. (Hoàng Lộc, Viếng bạn)
- Biện pháp: điệp thanh được tạo nên bằng cách lặp lại một loạt âm tiết có thanh trắc: khóc, nước, mắt, thắt, gọi, chửa, dính, chặt – đặc biệt là ở các vị trí gieo vần (mắt, thắt, chặt).
- Tác dụng: Tạo âm hưởng về một cảm xúc đau đớn, nghẹn ngào đang phải cố nén lại, thể hiện trọn vẹn nỗi xót xa, đau đớn khi tiễn biệt người đồng đội.
b. Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng Vàng rơi! Vàng rơi! Thu mênh mông… (Bích Khê, Tì bà)
- Biện pháp: điệp thanh được tạo nên bằng cách lặp lại một loạt âm tiết có thanh bằng (Ô hay buồn vương cây ngô đồng, vàng rơi vàng rơi thu mênh mông).
- Tác dụng: Tạo âm hưởng về một nỗi buồn nhẹ nhàng, êm dịu, lan toả, gợi không gian mùa thu mênh mang, lá vàng rơi nhẹ trong gió.
c. Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây súng ngửi trời Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi. (Quang Dũng, Tây Tiến)
- Biện pháp: Sau 3 câu thơ đầu dùng nhiều thanh trắc (miêu tả cảnh núi non hùng vĩ, địa hình hiểm trở), câu thơ thứ 4 sử dụng điệp thanh với một loạt âm tiết có cùng thanh bằng (Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi).
- Tác dụng: Tạo âm hưởng như tiếng thở phào thảnh thơi của người vừa vượt qua chặng đường gian nan, đồng thời gợi hình dung về một khung cảnh rộng mở, bình yên ẩn hiện trong mưa.
Bài tập 2 (trang 48): Trong bài thơ Tiếng đàn mưa, biện pháp tu từ điệp thanh được Bích Khê sử dụng rất đặc biệt: điệp thanh theo từng nhóm âm tiết trong cùng một câu thơ. Hãy làm rõ tác dụng của biện pháp tu từ này trong bài thơ.
a) Có 5 trường hợp điệp thanh theo từng nhóm âm tiết trong cùng một câu thơ:
| Câu thơ | Mô hình thanh điệu |
|---|---|
| Mưa hoa rụng, mưa hoa xuân rụng. | bằng – bằng – trắc |
| Mưa xuống lầu, mưa xuống thềm lan. | bằng – trắc – bằng |
| Lầu mưa xuống, thềm lan mưa xuống. | bằng – bằng – trắc |
| Đầm mưa xuống, nẻo đồi mưa xuống. | bằng – bằng – trắc |
| Bóng dương tà… rụng bóng tà dương. | trắc – bằng – bằng |
b) Tác dụng:
- Tạo tính nhạc đặc biệt cho câu thơ – âm điệu nhịp nhàng như tiếng đàn, đúng với nhan đề bài thơ Tiếng đàn mưa.
- Giúp người đọc cảm nhận được sự vật đang ở trong một trạng thái, một xu thế không thay đổi: những giọt mưa đang rơi mau ở khắp chốn, bóng chiều đang buông xuống triền miên.
- Tăng cường sức gợi hình, gợi cảm, làm cho cảnh mưa và tâm trạng buồn man mác của khách tha hương thêm sâu lắng.
Bài tập 3 (trang 48): Chỉ ra và cho biết tác dụng của biện pháp tu từ điệp vần trong các đoạn thơ dưới đây.
a. Rơi hoa hết mưa còn rả rích, Càng mưa rơi càng tịch bóng dương Bóng dương với khách tha hương Mưa trong ý khách muôn hàng lệ rơi. (Bích Khê, Tiếng đàn mưa)
- Biện pháp: điệp vần “ương” xuất hiện 3 lần (dương, dương, hương).
- Tác dụng:
- Vần “ương” ngân dài, lặp lại ở các hình ảnh “bóng dương” và “khách tha hương” tạo nên cảm nhận về một nỗi khắc khoải, day dứt.
- Gây ấn tượng về sự đồng điệu giữa cảnh vật (bóng dương) và con người (khách tha hương) – cảnh và người cùng cô đơn, cùng buồn bã trong chiều tà.
b. Tôi lại về quê mẹ nuôi xưa Một buổi trưa, nắng dài bãi cát Gió lộng xôn xao, sóng biển đu đưa Mát rượi lòng ta ngân nga tiếng hát… (Tố Hữu, Mẹ Tơm)
- Biện pháp: trong đoạn thơ, các vần được lặp lại nhiều lần:
- Vần “ưa” xuất hiện 3 lần (xưa, trưa, đưa).
- Vần “át” xuất hiện 3 lần (cát, mát, hát).
- Kết hợp với việc sử dụng từ láy: xôn xao, ngân nga.
- Tác dụng: Đem lại cho người đọc cảm nhận về những con sóng biển từng đợt, từng đợt rì rào xô tới rồi lại lùi ra khỏi bờ cát, dìu dặt, nhẹ nhàng. Đồng thời thể hiện cảm xúc ấm áp, mát rượi trong lòng người con khi trở về quê mẹ.

Thầy Nguyễn Thái Nhật Luật
(Người kiểm duyệt, ra đề)
Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Ngữ Văn THCS
Trình độ: Cử nhân Sư phạm Ngữ Văn, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ B1
Kinh nghiệm: 8+ năm kinh nghiệm tại THCS Hồng Bàng
