Soạn bài: Thực hành Tiếng Việt trang 76 – Ngữ Văn 9 tập 2

Mục lục [Ẩn]

Chọn đến phần học sinh cần nhanh chóng thông qua mục lục bằng cách click đến phần đó

I. Lý thuyết trọng tâm

1. Câu đơn và câu ghép

  • Câu đơn: là câu chỉ có một cụm chủ – vị (C – V) làm nòng cốt.

    Ví dụ: Vũ Nương / là người con gái thuỳ mị, nết na.

  • Câu ghép: là câu có từ hai cụm C – V trở lên, mỗi cụm C – V tạo thành một vế câu. Các vế câu có quan hệ chặt chẽ về ý nghĩa.

    Ví dụ: Trời / mưa to nhưng chúng em / vẫn đi học đúng giờ.

2. Các kiểu câu ghép

a. Câu ghép đẳng lập

Là câu ghép mà các vế có quan hệ ngang hàng, bình đẳng với nhau, không vế nào phụ thuộc vế nào.

  • Phương tiện nối:
    • Dùng quan hệ từ: và, nhưng, hoặc, rồi, mà,…

    Ví dụ: Em / học bài chị / xem ti vi.

    • Không dùng từ ngữ nối (dùng dấu câu: dấu phẩy, dấu chấm phẩy, dấu hai chấm).

    Ví dụ: Mưa / tạnh hẳn, mây / cũng dần tan.

b. Câu ghép chính phụ

Là câu ghép mà các vế có quan hệ phụ thuộc lẫn nhau: một vế chính, một vế phụ.

  • Phương tiện nối: thường dùng cặp kết từ (cặp quan hệ từ):
    • Vì… nên… (nguyên nhân – kết quả)
    • Nếu… thì… (điều kiện – kết quả)
    • Tuy… nhưng… (tương phản)
    • Dù… thì… / Dù cho… thì… (nhượng bộ)
    • Không những… mà còn… (tăng tiến)

    Ví dụ: trời / mưa to nên đường / rất trơn.

3. Lựa chọn câu đơn hoặc câu ghép

  • Dùng câu đơn khi muốn diễn đạt một ý ngắn gọn, rõ ràng.
  • Dùng câu ghép khi muốn thể hiện mối quan hệ chặt chẽ giữa các ý, làm cho lời văn súc tích, có sức biểu cảm cao, đồng thời có khả năng thâu gộp nhiều nội dung vào một câu.

II. Luyện tập

Bài tập 1 (trang 76): Xác định câu đơn và câu ghép trong đoạn văn sau:

Chúng ta đang ở đâu? Hôm nay ngày 8 – 8 – 1986, hơn 50 000 đầu đạn hạt nhân đã được bố trí trên khắp hành tinh. Nói nôm na ra, điều đó có nghĩa là mỗi người, không trừ trẻ con, đang ngồi trên một thùng 4 tấn thuốc nổ: tất cả chỗ đó nổ tung lên sẽ làm biến hết thảy, không phải là một lần mà là mười hai lần, mọi dấu vết của sự sống trên Trái Đất. Nguy cơ ghê gớm đó đang đè nặng lên chúng ta như thanh gươm Đa-mô-clét, về lí thuyết có thể tiêu diệt tất cả các hành tinh đang xoay quanh Mặt Trời, cộng thêm bốn hành tinh nữa, và phá huỷ thế thăng bằng của Hệ Mặt Trời.

(G.G. Mác-két, Đấu tranh cho một thế giới hoà bình)

a) Câu đơn:

  • (1) Chúng ta đang ở đâu?
  • (2) Hôm nay ngày 8 – 8 – 1986, hơn 50 000 đầu đạn hạt nhân đã được bố trí trên khắp hành tinh.
  • (3) Nguy cơ ghê gớm đó đang đè nặng lên chúng ta như thanh gươm Đa-mô-clét, về lí thuyết có thể tiêu diệt tất cả các hành tinh đang xoay quanh Mặt Trời, cộng thêm bốn hành tinh nữa, và phá huỷ thế thăng bằng của Hệ Mặt Trời.

b) Câu ghép:

  • Nói nôm na ra, điều đó có nghĩa là mỗi người, không trừ trẻ con, đang ngồi trên một thùng 4 tấn thuốc nổ: tất cả chỗ đó nổ tung lên sẽ làm biến hết thảy, không phải là một lần mà là mười hai lần, mọi dấu vết của sự sống trên Trái Đất.

→ Đoạn văn gồm 3 câu đơn1 câu ghép.

Bài tập 2 (trang 76): Chỉ ra kiểu câu ghép của từng câu sau và cho biết cách nối các vế của mỗi câu.

a. Đứa trẻ thì ngây thơ, chỉ kể lại những điều mà đêm đêm mẹ thường dạy khi cha vắng nhà*;** nó không thể phân biệt được giữa đùa với thật vì mới có ba tuổi đầu và tin lời mẹ.*

  • Kiểu câu ghép: câu ghép đẳng lập.
  • Cách nối: không dùng phương tiện nối (các vế được nối với nhau bằng dấu chấm phẩy).

b. Mấy chiếc chân bàn lung lay trong lớp đã được đóng lại nhưng không ai đánh giá đúng ý nghĩa đôi bàn tay khéo léo của Quỳnh.

  • Kiểu câu ghép: câu ghép đẳng lập.
  • Cách nối: dùng quan hệ từ “nhưng”.

c. Nhưng dù cho tai hoạ có xảy ra thì sự có mặt của chúng ta ở đây cũng không phải là vô ích.

  • Kiểu câu ghép: câu ghép chính phụ.
  • Cách nối: dùng cặp kết từ “dù cho… thì…”.

d. Không gì quan trọng bằng tương lai của chúng ta*, và** số phận của nhân loại tuỳ thuộc vào cách chúng ta ứng phó với sự thách thức của khí hậu.*

  • Kiểu câu ghép: câu ghép đẳng lập.
  • Cách nối: dùng quan hệ từ “và”.

Bài tập 3 (trang 76 – 77): Đọc đoạn văn sau và thực hiện nhiệm vụ nêu ở dưới:

Có thể nói, với “Người con gái Nam Xương”, Nguyễn Dữ đã vượt khỏi những công thức thông lệ về hình tượng người phụ nữ trong thể truyền kì. Vũ Nương không phải là hình tượng một trang liệt nữ, nàng chỉ là một người đàn bà bình thường như bao người vợ, người mẹ trong đời thực. Phản ánh số phận Vũ Thị Thiết, Nguyễn Dữ đã đề cập tới cái bi kịch muôn thuở của con người. Có lẽ vì vậy mà “Người con gái Nam Xương” vẫn còn sức hấp dẫn đối với người đọc ngày nay.

(Nguyễn Đăng Na, “Người con gái Nam Xương” – một bi kịch của con người)

a) Các câu đơn và câu ghép trong đoạn văn:

Câu đơn:

  • (1) Có thể nói, với “Người con gái Nam Xương”, Nguyễn Dữ đã vượt khỏi những công thức thông lệ về hình tượng người phụ nữ trong thể truyền kì.
  • (3) Phản ánh số phận Vũ Thị Thiết, Nguyễn Dữ đã đề cập tới cái bi kịch muôn thuở của con người.
  • (4) Có lẽ vì vậy mà “Người con gái Nam Xương” vẫn còn sức hấp dẫn đối với người đọc ngày nay.

Câu ghép:

  • (2) Vũ Nương không phải là hình tượng một trang liệt nữ, nàng chỉ là một người đàn bà bình thường như bao người vợ, người mẹ trong đời thực.

→ Đoạn văn gồm 3 câu đơn1 câu ghép.

b) Tách các vế của câu ghép thành những câu đơn và nhận xét sự khác nhau về nội dung biểu đạt:

Tách câu ghép thành câu đơn:

  • Vũ Nương không phải là hình tượng một trang liệt nữ.
  • Nàng chỉ là một người đàn bà bình thường như bao người vợ, người mẹ trong đời thực.

So sánh nội dung biểu đạt:

  • hai câu đơn, nội dung thông báo ngắn gọn, đơn giản hơn; hai ý đứng độc lập, mối quan hệ giữa chúng không được làm nổi bật.
  • câu ghép, câu có khả năng thâu gộp tất cả các nội dung được thể hiện ở các câu đơn, đồng thời làm nổi bật mối quan hệ đối lập giữa hai vế (“không phải là… mà chỉ là…”), nhấn mạnh quan điểm của tác giả về nhân vật Vũ Nương.

→ Việc lựa chọn câu đơn hay câu ghép phụ thuộc vào mục đích biểu đạt của người viết. Trong trường hợp này, câu ghép là lựa chọn phù hợp hơn vì làm nổi bật ý đối lập và tăng sức biểu cảm cho lời văn.

Thầy Nguyễn Thái Nhật Luật

Thầy Nguyễn Thái Nhật Luật

(Người kiểm duyệt, ra đề)

Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Ngữ Văn THCS

Trình độ: Cử nhân Sư phạm Ngữ Văn, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ B1

Kinh nghiệm: 8+ năm kinh nghiệm tại THCS Hồng Bàng