Soạn bài: Thực hành tiếng Việt trang 93 – Ngữ Văn 9 tập 1

Mục lục [Ẩn]

Chọn đến phần học sinh cần nhanh chóng thông qua mục lục bằng cách click đến phần đó

I. Lý thuyết trọng tâm

1. Nhận biết cách dẫn trực tiếp và cách dẫn gián tiếp

a. Cách dẫn trực tiếp

Cách dẫn trực tiếp là sử dụng nguyên văn từ ngữ, câu, đoạn… của một văn bản gốc vào bài viết, bài nói. Trong bài viết, phần dẫn trực tiếp được đặt trong dấu ngoặc kép và thường đứng sau dấu hai chấm.

Ví dụ:

Hoài Thanh nói rõ quan niệm của ông về phê bình: “Điều tôi ngại nhất là mang tên nhà phê bình. Hai chữ phê bình sao nghe nó khó chịu quá”. (Đỗ Đức Hiểu, 14 tháng Bảy 1789 và “Thi nhân Việt Nam”)

→ Phần in đậm là lời dẫn trực tiếp – nguyên văn lời của Hoài Thanh, được đặt sau dấu hai chấm và trong dấu ngoặc kép.

b. Cách dẫn gián tiếp

Cách dẫn gián tiếp là sử dụng ý tưởng của người khácdiễn đạt lại theo cách của mình. Tuy được diễn đạt lại nhưng ý tưởng trong văn bản gốc cần được thể hiện một cách trung thành. Trong bài viết, phần dẫn gián tiếp không đặt trong dấu ngoặc kép.

Ví dụ:

M. Go-rơ-ki đã kể chuyện ông đọc nhiều như thế nào trước khi thành nhà văn lớn. Muốn học giỏi văn phải bắt đầu bằng đọc văn. (Trần Đình Sử, Đọc văn – cuộc chơi tìm ý nghĩa)

→ Phần in đậm là lời dẫn gián tiếp – người viết diễn đạt lại ý của nhà văn M. Go-rơ-ki, không đặt trong dấu ngoặc kép.

c. Lưu ý

  • Phân biệt với lời thoại của nhân vật: Lời thoại trong truyện thường được đặt sau dấu hai chấm, xuống dòng, có dấu gạch đầu dòng ở đầu lời thoại – đây không phải là lời dẫn trực tiếp.
  • Phân biệt với lời dẫn ý nghĩ bên trong: Một số phần dẫn ý nghĩ bên trong của nhân vật tuy được đặt trong dấu ngoặc kép nhưng không phải là cách dẫn trực tiếp.

2. Chuyển đổi từ cách dẫn trực tiếp sang cách dẫn gián tiếp

Khi chuyển từ cách dẫn trực tiếp sang cách dẫn gián tiếp, cần:

  • Lược bỏ dấu ngoặc kép, dấu hai chấm đánh dấu phần dẫn trực tiếp.
  • Diễn đạt lại nội dung phần dẫn trực tiếp sao cho thích hợp, đảm bảo trung thành với ý được dẫn trong văn bản gốc (có thể thay đổi từ xưng hô, lược bỏ một số từ ngữ cho phù hợp…).

Ví dụ chuyển đổi:

Dẫn trực tiếp: Hoài Thanh nói rõ quan niệm của ông về phê bình: “Điều tôi ngại nhất là mang tên nhà phê bình. Hai chữ phê bình sao nghe nó khó chịu quá”.

Dẫn gián tiếp: Trong “Thi nhân Việt Nam”, Hoài Thanh bày tỏ sự ngại ngùng, khó chịu khi được gọi là nhà phê bình.

II. Luyện tập

Bài tập 1 (trang 93): Xác định phần dẫn trong các câu sau, cho biết phần đó được dẫn theo cách trực tiếp hay gián tiếp. Những dấu hiệu nào giúp em nhận ra điều đó?

a. Khi chồng ra đi, nàng giãi bày nỗi niềm của mình: “Chàng đi chuyến này, thiếp chẳng dám mong đeo được ấn phong hầu […], chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên, thế là đủ rồi”. (Nguyễn Đăng Na, “Người con gái Nam Xương” – một bi kịch của con người)

  • Phần dẫn: “Chàng đi chuyến này, thiếp chẳng dám mong đeo được ấn phong hầu […], chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên, thế là đủ rồi”.
  • Cách dẫn: trực tiếp.
  • Dấu hiệu: phần dẫn được đặt sau dấu hai chấmtrong dấu ngoặc kép.

b. Theo như lời thầy giáo của tôi bảo, người La Mã xưa kia nuôi ong trong những cái tổ bằng đồng hình chiếc vại, có đục thủng nhiều hàng lỗ con vòng quanh miệng, quanh đáy. (Đoàn Giỏi, Đất rừng phương Nam)

  • Phần dẫn: người La Mã xưa kia nuôi ong trong những cái tổ bằng đồng hình chiếc vại, có đục thủng nhiều hàng lỗ con vòng quanh miệng, quanh đáy.
  • Cách dẫn: gián tiếp.
  • Dấu hiệu: có lời chỉ dẫn “theo như lời thầy giáo của tôi bảo”; phần dẫn không được đặt trong dấu ngoặc kép.

Bài tập 2 (trang 94): Hãy chuyển cách dẫn trực tiếp trong các câu dưới đây sang cách dẫn gián tiếp:

a. Nỗi oan của Vũ Nương sẽ còn đeo đẳng mãi lấy nàng, nếu như không có một đêm tình cờ đứa bé nói: “Cha Đản lại đến kia kia!”.

Chuyển sang dẫn gián tiếp: Nỗi oan của Vũ Nương sẽ còn đeo đẳng mãi lấy nàng, nếu như không có một đêm tình cờ đứa bé nói cha của nó lại đến rồi.

b. Thủ lĩnh da đỏ Xi-át-tơn đã khẳng định: “Đối với đồng bào tôi, mỗi tấc đất là thiêng liêng, mỗi lá thông óng ánh, mỗi bờ cát, mỗi hạt sương long lanh trong những cánh rừng rậm rạp, mỗi bãi đất hoang và tiếng thì thầm của côn trùng là những điều thiêng liêng trong kí ức và kinh nghiệm của đồng bào tôi.”.

Chuyển sang dẫn gián tiếp: Thủ lĩnh da đỏ Xi-át-tơn đã khẳng định rằng, đối với đồng bào của ông, mỗi tấc đất là thiêng liêng, mỗi lá thông óng ánh, mỗi bờ cát, mỗi hạt sương long lanh trong những cánh rừng rậm rạp, mỗi bãi đất hoang và tiếng thì thầm của côn trùng là những điều thiêng liêng trong kí ức và kinh nghiệm của đồng bào ông.

c. Trong “Thi nhân Việt Nam”, Hoài Thanh đã bộc lộ thành thực một tâm trạng: “Dẫu có ưa thơ người này người khác, mỗi lúc buồn đến, tôi lại trở về với Lưu Trọng Lư. Có những bài thơ cứ vương vấn trong trí tôi hàng tháng, lúc nào cũng như văng vẳng bên tai. Bởi vì thơ Lư nhiều bài thực không phải là thơ, nghĩa là những công trình nghệ thuật, mà chính là tiếng lòng thổn thức cùng hoà theo tiếng thổn thức của lòng ta”.

Chuyển sang dẫn gián tiếp: Trong “Thi nhân Việt Nam”, Hoài Thanh đã bộc lộ thành thực tâm trạng của ông, đó là dầu có ưa thơ người này người khác, mỗi lúc buồn đến, ông lại trở về với Lưu Trọng Lư. Có những bài thơ cứ vương vấn trong trí ông hàng tháng, lúc nào cũng văng vẳng bên tai. Bởi vì đối với ông, thơ của Lưu Trọng Lư nhiều bài không phải là thơ, nghĩa là những công trình nghệ thuật, mà chính là tiếng lòng thổn thức cùng hoà theo tiếng thổn thức trong lòng mỗi người.

Bài tập 3 (trang 94): Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 5 – 7 câu) có nội dung liên quan đến ý kiến dưới đây, trích dẫn ý kiến đó theo cách trực tiếp hoặc gián tiếp:

Cái tài của Nguyễn Dữ là ông đã dung hoà được hiện thực với ước mơ, giữa cái tồn tại với cái ảo ảnh. (Nguyễn Đăng Na, “Người con gái Nam Xương” – một bi kịch của con người)

Câu hỏi mở, em có thể tham khảo các cách viết sau.

Đoạn văn tham khảo 1 — Trích dẫn theo cách trực tiếp:

Trong tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương, Nguyễn Dữ đã thể hiện một tài năng nghệ thuật đặc sắc khi kết hợp giữa yếu tố hiện thực và yếu tố kì ảo. Bàn về điều này, nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Na đã nhận định: “Cái tài của Nguyễn Dữ là ông đã dung hoà được hiện thực với ước mơ, giữa cái tồn tại với cái ảo ảnh.” Quả thực, qua những chi tiết kì ảo như Vũ Nương được Linh Phi cứu sống dưới thuỷ cung, được trở về trên bến Hoàng Giang trong cảnh lộng lẫy, nhà văn đã đáp ứng được ước mơ của nhân dân về sự công bằng. Tuy nhiên, ảo ảnh ấy chỉ thoáng qua, Vũ Nương vẫn không thể trở về với chồng con, hạnh phúc gia đình đã tan vỡ vĩnh viễn. Chính sự dung hoà giữa hiện thực và ước mơ đã làm nên sức hấp dẫn riêng cho truyện truyền kì của Nguyễn Dữ, đồng thời tô đậm bi kịch của người phụ nữ trong xã hội phong kiến.

Đoạn văn tham khảo 2 — Trích dẫn theo cách gián tiếp:

Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ là một trong những truyện truyền kì xuất sắc nhất của văn học trung đại Việt Nam. Trong bài nghiên cứu của mình, Nguyễn Đăng Na đã khẳng định cái tài của Nguyễn Dữ chính là ở chỗ ông biết dung hoà giữa hiện thực với ước mơ, giữa cái tồn tại với cái ảo ảnh. Nhận định ấy thật chính xác. Yếu tố kì ảo trong truyện giúp Vũ Nương được minh oan, được hội ngộ với chồng con trong khoảnh khắc – đó là ước mơ về sự đền đáp cho người tốt. Nhưng yếu tố hiện thực lại buộc Vũ Nương phải biến mất giữa dòng sông, sự đoàn tụ chỉ là ảo ảnh chốc lát, còn chia li mới là mãi mãi. Chính sự kết hợp tài tình ấy đã làm nên giá trị nhân văn sâu sắc và sức sống lâu bền của tác phẩm.

Thầy Nguyễn Thái Nhật Luật

Thầy Nguyễn Thái Nhật Luật

(Người kiểm duyệt, ra đề)

Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Ngữ Văn THCS

Trình độ: Cử nhân Sư phạm Ngữ Văn, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ B1

Kinh nghiệm: 8+ năm kinh nghiệm tại THCS Hồng Bàng