Chọn đến phần học sinh cần nhanh chóng thông qua mục lục bằng cách click đến phần đó
I. Tìm hiểu chung
1. Tác giả
Nguyễn Đăng Na (1942 – 2014), quê ở Đồng Tháp, là nhà nghiên cứu, phê bình văn học. Một số công trình tiêu biểu: Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại (3 tập), Con đường giải mã văn học trung đại Việt Nam (2006)…
2. Tác phẩm
- Xuất xứ: Văn bản được trích từ cuốn Con đường giải mã văn học trung đại Việt Nam (NXB Giáo dục, 2007).
- Thể loại: văn bản nghị luận văn học (viết về tác phẩm văn học).
- Phương thức biểu đạt chính: nghị luận.
- Vấn đề bàn luận (luận đề): bi kịch của con người trong tác phẩm Người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ.
- Bố cục (5 phần):
- Phần (1): giới thiệu khái quát về truyện Người con gái Nam Xương và nhân vật Vũ Thị Thiết.
- Phần (2): khái quát về cuộc đời bi kịch của Vũ Nương.
- Phần (3): phân tích nguyên nhân gây nên bi kịch của Vũ Nương.
- Phần (4): phân tích sự kết hợp giữa yếu tố hiện thực và kì ảo trong tác phẩm.
- Phần (5): khẳng định sức hấp dẫn của tác phẩm đối với bạn đọc.
Lưu ý: Tên tác phẩm Nam Xương nữ tử truyện của Nguyễn Dữ được tác giả bài viết dịch là Người con gái Nam Xương, khác với cách dịch ở bài 1 (Chuyện người con gái Nam Xương).
II. Trước khi đọc
Câu 1: Kể tên một vài tác phẩm văn học Việt Nam viết về số phận bi kịch của con người.
Câu hỏi mở, em có thể chọn một trong các cách sau.
- Cách 1: Một vài tác phẩm văn học Việt Nam viết về số phận bi kịch của con người: vở chèo Quan Âm Thị Kính, Truyện Kiều (Nguyễn Du), Bánh trôi nước (Hồ Xuân Hương), Chuyện người con gái Nam Xương (Nguyễn Dữ)…
- Cách 2: Em đã đọc và biết đến một số tác phẩm: Lão Hạc, Chí Phèo (Nam Cao), Tắt đèn (Ngô Tất Tố), Truyện Kiều (Nguyễn Du), Xuý Vân giả dại (chèo cổ)…
Câu 2: Ở bài 1, em đã được học tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương. Hãy chia sẻ cảm nhận về một chi tiết mà em ấn tượng nhất trong tác phẩm.
Câu hỏi mở, em có thể chọn một trong các cách sau.
- Cách 1: Em ấn tượng nhất với chi tiết chiếc bóng trên vách. Trong những đêm cô đơn xa chồng, Vũ Nương đã chỉ bóng mình trên vách và nói với con đó là cha Đản. Chi tiết tưởng chừng đơn giản ấy đã trở thành nguyên nhân thắt nút và mở nút câu chuyện, làm nên kịch tính cho tác phẩm và đẩy nhân vật vào bi kịch oan khuất.
- Cách 2: Em xúc động nhất với lời than của Vũ Nương trước khi gieo mình xuống sông. Lời than ấy vừa thể hiện nỗi đau đớn tột cùng, vừa khẳng định mạnh mẽ phẩm tiết trong sạch của nàng – một người phụ nữ thuỷ chung, son sắt nhưng phải chịu nỗi oan tày trời.
- Cách 3: Em ấn tượng nhất với chi tiết Vũ Nương hiện về trên bến Hoàng Giang trong khung cảnh kì ảo, lộng lẫy. Chi tiết này vừa giúp nàng được giải oan, vừa tô đậm bi kịch: dù được minh oan nhưng hạnh phúc gia đình đã không thể cứu vãn.
III. Trong khi đọc
1. Theo dõi: Cách đặt vấn đề của tác giả
Tác giả đặt vấn đề bằng cách giới thiệu khái quát về tác phẩm, nhân vật Vũ Thị Thiết và nêu trực tiếp vấn đề cần bàn luận: tác phẩm là một trong 11 truyện viết về đề tài phụ nữ của Nguyễn Dữ, Vũ Thị Thiết là nhân vật có thật, nay ở Lý Nhân, Hà Nam (thuộc tỉnh Ninh Bình ngày nay) vẫn còn đền thờ nàng; nhiều thế hệ từ vua Lê Thánh Tông đến nhà thơ Nguyễn Khuyến đều rơi lệ xót thương cho thân phận nàng.
→ Cách nêu vấn đề trực tiếp, ngắn gọn, vừa cung cấp thông tin xác thực vừa khơi gợi sự đồng cảm của người đọc.
2. Theo dõi: Nhận xét của tác giả về cuộc đời nhân vật Vũ Nương
- Cuộc đời Vũ Nương ngắn ngủi nhưng nàng đã làm trọn nghĩa vụ của một kiếp đàn bà: làm con, làm dâu, làm vợ, làm mẹ.
- Nàng chịu mọi gian lao vất vả: một mình sinh nở, nuôi con thơ, chăm sóc mẹ chồng già yếu, lo ma chay tế lễ khi mẹ chồng mất.
- Nàng không màng công danh, chỉ mong chồng trở về “mang theo được hai chữ bình yên”, mong “cái thú vui nghi gia nghi thất”.
→ Vũ Nương là một người phụ nữ đảm đang, hiếu nghĩa, thuỷ chung, với những ước mong giản dị mà sâu sắc.
3. Theo dõi: Nét tính cách của nhân vật Trương Sinh được tác giả tập trung phân tích
Tác giả tập trung phân tích tính ghen tuông, đa nghi, hàm hồ, mù quáng của Trương Sinh:
- Mặc dù “mến vì dung hạnh” mà cưới Vũ Nương, nhưng Trương Sinh vốn “có tính đa nghi, đối với vợ phòng ngừa quá sức”.
- Sau ba năm đi lính trở về, sự đa nghi gặp đúng cơ hội đã bùng phát thành cơn ghen mù quáng.
- “Đã ghen, cần gì chứng cớ” – chàng tin con, tin định kiến của mình, không đủ tỉnh táo để suy xét.
4. Chú ý: Lí lẽ và bằng chứng được tác giả sử dụng để bày tỏ suy nghĩ về nhân vật Trương Sinh
- Lí lẽ: Trương Sinh ghen tuông, đa nghi nên dễ định kiến; ba năm xa cách tạo khoảng trống không gian, thời gian khiến chàng không kiểm soát được vợ; cộng thêm nỗi mệt mỏi sau chiến tranh và cảnh mẹ mất, chàng mất chỗ dựa nên dễ tin lời con thơ.
- Bằng chứng: trích dẫn trực tiếp lời bé Đản (“Ô hay! Thế ra ông cũng là cha tôi ư?…”, “Trước đây, thường có một người đàn ông, đêm nào cũng đến…”) và lời than của Vũ Nương (“Nay đã bình rơi trâm gãy…”).
→ Lí lẽ chặt chẽ, bằng chứng cụ thể, giàu sức thuyết phục.
5. Chú ý: Cách tác giả phân tích chi tiết chiếc bóng trên vách – chi tiết mang tính thắt nút – mở nút
- Thắt nút: Lời bé Đản chỉ vào “người đàn ông đêm nào cũng đến” (chiếc bóng) là nguyên nhân trực tiếp khiến Trương Sinh nổi cơn ghen, đẩy Vũ Nương đến cái chết.
- Mở nút: Đêm khuya, khi bé Đản chỉ bóng Trương Sinh trên vách và nói “Cha Đản lại đến kia kia!”, Trương Sinh mới thấu nỗi oan của vợ – nhưng đã muộn.
- Tác giả nâng tầm ý nghĩa của chi tiết: “Vợ chồng yêu nhau quyến luyến không rời như hình với bóng. Nàng là hình, chàng là bóng… Nàng chết, hình đã mất, bóng đâu còn!”
→ Đây là nét độc đáo riêng của Nguyễn Dữ, không thể tìm thấy trong bất cứ truyện truyền kì nào của Việt Nam cũng như Trung Hoa, Nhật Bản, Hàn Quốc.
6. Chú ý: Vì sao tác giả cho rằng “bi kịch của Vũ Thị Thiết một phần là do nàng”?
Tác giả cho rằng bi kịch của Vũ Nương một phần do nàng vì:
- Nàng đã biết tính chồng “có tính đa nghi, đối với vợ phòng ngừa quá sức”.
- Vậy mà nàng vẫn trỏ bóng mình bảo con đó là cha → bé Đản tin thật, dẫn đến ngạc nhiên khi Trương Sinh trở về và nói chuyện với Trương Sinh khiến chàng nghi ngờ.
- Tác giả kết luận: “Vợ chồng mà chẳng biết tính của nhau, dù có thương yêu nhau, chẳng trước thì sau, bi kịch ắt xảy đến.”
→ Tác giả nhìn nhận nguyên nhân bi kịch từ cả hai phía (chồng và vợ), cho thấy cách phân tích toàn diện, không phiến diện.
7. Chú ý: Nhận định của người viết về nét độc đáo ở truyện truyền kì Nguyễn Dữ
- Nguyễn Dữ đã dung hoà giữa hiện thực và ước mơ, giữa cái tồn tại và cái ảo ảnh: Vũ Nương hiện về trong cảnh kì ảo nhưng “ảo ảnh chập chờn và mau chóng tan biến”, “chia li là vĩnh viễn”.
- Đây là nét đặc sắc trong truyện truyền kì của Nguyễn Dữ mà các tác giả sau chẳng thể vượt qua.
8. Chú ý: Cách tác giả kết thúc vấn đề
Tác giả kết thúc bằng cách khái quát và nâng cao vấn đề: Nguyễn Dữ đã vượt khỏi những công thức thông lệ về hình tượng người phụ nữ trong truyện truyền kì. Vũ Nương không phải là “trang liệt nữ” mà chỉ là một người đàn bà bình thường như bao người vợ, người mẹ trong đời thực. Qua số phận Vũ Thị Thiết, Nguyễn Dữ đã đề cập tới bi kịch muôn thuở của con người – đó là lí do tác phẩm vẫn còn sức hấp dẫn với người đọc ngày nay.
IV. Sau khi đọc – Trả lời câu hỏi
Câu 1: Xác định vấn đề được bàn luận và bố cục của bài nghị luận.
a) Vấn đề được bàn luận (luận đề): Bi kịch của con người trong tác phẩm Người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ.
b) Bố cục: 5 phần (đã nêu ở mục I.2).
Câu 2: Từ luận đề, tác giả đã triển khai các luận điểm theo trình tự nào?
Tác giả triển khai các luận điểm theo trình tự lô-gíc, mạch lạc:
| Phần | Vai trò | Nội dung |
|---|---|---|
| (1) | Mở đầu | Giới thiệu tác phẩm, nhân vật, nêu vấn đề |
| (2) | Nhận diện bi kịch | Khái quát cuộc đời bi kịch của Vũ Nương |
| (3) | Lí giải bi kịch | Phân tích nguyên nhân gây nên bi kịch |
| (4) | Hoá giải bi kịch | Phân tích sự kết hợp giữa yếu tố hiện thực và kì ảo |
| (5) | Kết thúc | Khẳng định nét độc đáo và sức hấp dẫn của tác phẩm |
Câu 3: Đọc phần (2) và cho biết, theo tác giả, bi kịch của nhân vật Vũ Nương là gì. Tác giả đã làm sáng tỏ bi kịch ấy qua những lí lẽ và bằng chứng nào?
a) Bi kịch của Vũ Nương theo tác giả:
Bi kịch của Vũ Nương là bị hiểu nhầm, bị nghi ngờ lòng chung thuỷ khiến nàng phải chết thảm; đau đớn hơn, kẻ gây nên bi kịch ấy không phải ai xa lạ mà chính là chồng và con – hai người thân yêu nhất của nàng.
b) Lí lẽ và bằng chứng làm sáng tỏ bi kịch:
- Lí lẽ 1: Vũ Nương xinh đẹp, đảm đang, có nhiều phẩm chất tốt đẹp, lẽ ra phải được hạnh phúc.
- Lí lẽ 2: Cuộc đời oái oăm đã đẩy nàng vào bi kịch: “Ngày sum họp cùng chồng, cũng là ngày nàng phải vĩnh viễn lìa xa tổ ấm.”
- Bằng chứng:
- Trích dẫn trực tiếp lời Vũ Nương: “Chàng đi chuyến này, thiếp chẳng dám mong đeo được ấn phong hầu […] chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên, thế là đủ rồi.”
- Trích dẫn gián tiếp: tả việc đứa con ngây thơ và người chồng cả ghen, hàm hồ, mù quáng gây ra oan trái cho Vũ Nương.
Câu 4: Đọc phần (3) và cho biết, theo tác giả, điều gì đã khiến Vũ Nương gieo mình xuống sông tự tử. Em có suy nghĩ gì về cách lí giải của tác giả?
a) Nguyên nhân khiến Vũ Nương tự tử theo tác giả:
- Nguyên nhân chính: Trương Sinh ghen tuông mù quáng, không cho biết ai cung cấp nguồn tin, không cho Vũ Nương cơ hội minh oan; nàng không có cách nào chứng minh sự trong sạch nên phải gieo mình xuống sông.
- Nguyên nhân một phần do Vũ Nương: nàng đã biết tính chồng đa nghi nhưng vẫn trỏ bóng mình bảo con là cha → trở thành nguyên cớ khiến Trương Sinh nghi ngờ.
b) Suy nghĩ về cách lí giải của tác giả:
- Cách lí giải của tác giả hợp lí, thuyết phục: dựa trên các tình tiết trong văn bản, suy luận lô-gíc về diễn biến tâm lí nhân vật.
- Tác giả nhìn nhận nguyên nhân bi kịch từ cả hai phía (chồng và vợ, khách quan và chủ quan) nên cách lí giải toàn diện, không phiến diện.
- Cách lí giải ấy cho thấy người viết đã nhập thân, thấu hiểu thế giới nội tâm của nhân vật – điều rất đáng quý vì tâm lí nhân vật trong văn học trung đại thường không được miêu tả trực tiếp.
Câu 5: Nét đặc sắc nào trong truyện truyền kì của Nguyễn Dữ được làm rõ ở phần (4)?
Ở phần (4), tác giả làm rõ nét đặc sắc: sự dung hoà giữa yếu tố hiện thực và yếu tố kì ảo, giữa đời thực và ước mơ.
- Yếu tố kì ảo giúp Vũ Nương được minh oan, hội ngộ với Trương Sinh (dù chỉ trong chốc lát).
- Yếu tố hiện thực khiến cuộc đoàn tụ chỉ diễn ra trong khoảnh khắc, chia li mới là vĩnh viễn: “trong chốc lát, bóng nàng loang loáng mờ nhạt dần mà biến đi mất”.
- Bi kịch của Vũ Nương không chỉ là bi kịch cá nhân mà còn là bi kịch của con người, bi kịch của gia đình: “đứa trẻ mồ côi, người chồng cô đơn, người vợ bị chết”.
→ Đây là nét đặc sắc mà các tác giả sau chẳng thể vượt qua.
Câu 6: Đọc phần (3) và phần (5), cho biết tác giả đã làm nổi bật nét độc đáo trong truyện truyền kì của Nguyễn Dữ bằng cách nào. Những câu văn nào giúp em hiểu rõ về nét độc đáo đó?
a) Cách làm nổi bật nét độc đáo: Tác giả đặt truyện của Nguyễn Dữ trong tương quan so sánh với các truyện truyền kì khác (trong nước và của các nước Trung Hoa, Nhật Bản, Hàn Quốc).
b) Những câu văn tiêu biểu:
- Phần (3): “Lấy hình tượng cái bóng người và lời nói ngây thơ của đứa con để đẩy câu chuyện tới đỉnh điểm là nét độc đáo riêng của Nguyễn Dữ, không thể tìm thấy trong bất cứ truyện truyền kì nào của Việt Nam cũng như của các nước Trung Hoa, Nhật Bản, Hàn Quốc,…”
- Phần (5): “Có thể nói, với Người con gái Nam Xương, Nguyễn Dữ đã vượt khỏi những công thức thông lệ về hình tượng người phụ nữ trong thể truyền kì.”
→ Điểm chung giữa hai phần: tác giả đều dùng biện pháp so sánh để làm nổi bật nét độc đáo của Nguyễn Dữ.
Câu 7: Phần (5) có vai trò gì trong bài nghị luận? Câu văn nào giúp em xác định được vai trò ấy?
a) Vai trò của phần (5): Đóng vai trò kết thúc vấn đề trong bài nghị luận; khái quát và nâng cao các ý đã phân tích trong bài; khẳng định sức sống của tác phẩm Người con gái Nam Xương với người đọc.
b) Câu văn giúp xác định vai trò ấy: “Có lẽ vì vậy mà Người con gái Nam Xương vẫn còn sức hấp dẫn đối với người đọc ngày nay.”
Câu 8: Một số chi tiết và nhân vật trong tác phẩm Người con gái Nam Xương không được tác giả bài nghị luận phân tích, chẳng hạn như chi tiết người mẹ dặn dò trước khi Trương Sinh ra trận, các nhân vật Linh Phi, Phan Lang,… Từ đó, em có suy nghĩ gì về việc sử dụng lí lẽ và bằng chứng trong văn bản nghị luận văn học?
Từ thực tế trên, em rút ra những suy nghĩ về việc sử dụng lí lẽ và bằng chứng trong văn bản nghị luận văn học:
- Lí lẽ và bằng chứng cần hướng vào trọng tâm vấn đề được bàn luận. Trong bài viết này, vì trọng tâm là bi kịch của con người (qua nhân vật Vũ Nương), nên tác giả tập trung phân tích những chi tiết, nhân vật trực tiếp liên quan đến bi kịch ấy.
- Người viết không cần phân tích tất cả chi tiết hay nhân vật có trong tác phẩm. Việc lựa chọn chi tiết, nhân vật nào để bàn luận phụ thuộc vào luận đề và dung lượng của bài nghị luận.
- Lí lẽ phải lô-gíc, chặt chẽ; bằng chứng phải cụ thể, xác đáng và được trích dẫn (trực tiếp hoặc gián tiếp) một cách phù hợp.
V. Viết kết nối với đọc
Em có đồng tình với những phân tích của tác giả bài viết “Người con gái Nam Xương” – một bi kịch của con người về chi tiết chiếc bóng trên vách không? Viết đoạn văn (khoảng 7 – 9 câu) để trả lời câu hỏi trên.
Đoạn văn tham khảo 1 – Đồng tình:
Em hoàn toàn đồng tình với những phân tích của tác giả Nguyễn Đăng Na về chi tiết chiếc bóng trên vách trong Chuyện người con gái Nam Xương. Tác giả đã chỉ ra rất chính xác rằng chiếc bóng là chi tiết mang tính thắt nút và mở nút của câu chuyện: lời bé Đản chỉ về “người đàn ông đêm nào cũng đến” (chiếc bóng) đã châm ngòi cho cơn ghen của Trương Sinh, đẩy Vũ Nương đến cái chết oan khuất; và cũng chính chiếc bóng ấy về sau lại giúp Trương Sinh nhận ra nỗi oan của vợ. Em đặc biệt tâm đắc với cách tác giả nâng tầm ý nghĩa của chi tiết: “Vợ chồng yêu nhau quyến luyến không rời như hình với bóng. Nàng là hình, chàng là bóng… Nàng chết, hình đã mất, bóng đâu còn!” Cách phân tích ấy thật sâu sắc, gợi mở nhiều ý nghĩa về tình nghĩa vợ chồng. Tác giả cũng khẳng định đây là nét độc đáo riêng của Nguyễn Dữ, không thể tìm thấy trong bất cứ truyện truyền kì nào của Việt Nam, Trung Hoa, Nhật Bản hay Hàn Quốc – một nhận định giàu sức thuyết phục nhờ biện pháp so sánh. Qua những phân tích ấy, em càng hiểu hơn về tài năng nghệ thuật của Nguyễn Dữ và giá trị nhân văn sâu sắc của tác phẩm.
Đoạn văn tham khảo 2 – Đồng tình:
Em rất đồng tình với những phân tích của tác giả Nguyễn Đăng Na về chi tiết chiếc bóng trên vách. Trước hết, tác giả đã nhìn ra vai trò hai mặt của chi tiết: vừa là nguyên nhân đẩy Vũ Nương vào bi kịch, vừa là chìa khoá mở ra nỗi oan của nàng. Đây là cách nhìn rất tinh tế bởi nó cho thấy sức nặng nghệ thuật của một chi tiết tưởng chừng nhỏ nhặt. Tiếp đến, tác giả đã liên hệ ý nghĩa chiếc bóng với hình ảnh “hình” và “bóng” trong tình nghĩa vợ chồng, qua đó làm sâu sắc thêm bi kịch của Vũ Nương: bóng không còn vì hình đã mất, sự lẻ loi và nỗi ân hận sẽ giày vò Trương Sinh suốt đời. Em đặc biệt khâm phục khi tác giả khẳng định việc “lấy hình tượng cái bóng người và lời nói ngây thơ của đứa con để đẩy câu chuyện tới đỉnh điểm” là nét độc đáo riêng của Nguyễn Dữ. Nhận định ấy được làm rõ bằng biện pháp so sánh với truyện truyền kì của các nước khác, nên rất có sức thuyết phục. Qua những phân tích sắc sảo của tác giả, em không chỉ hiểu hơn về chi tiết chiếc bóng mà còn cảm nhận được tài năng và tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Dữ đối với người phụ nữ.

Thầy Nguyễn Thái Nhật Luật
(Người kiểm duyệt, ra đề)
Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Ngữ Văn THCS
Trình độ: Cử nhân Sư phạm Ngữ Văn, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ B1
Kinh nghiệm: 8+ năm kinh nghiệm tại THCS Hồng Bàng
