Câu 1 (trang 110): Vẽ sơ đồ tư duy thể hiện luận đề, hệ thống luận điểm và những lí lẽ, bằng chứng tiêu biểu của mỗi luận điểm trong hai văn bản.
Văn bản: “Người con gái Nam Xương” – một bi kịch của con người (Nguyễn Đăng Na)
Luận đề: Bi kịch của con người trong tác phẩm Người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ.
Hệ thống luận điểm:
- Luận điểm 1 – Cuộc đời bi kịch của Vũ Nương:
- Lí lẽ: Vũ Nương xinh đẹp, đảm đang, có nhiều phẩm chất tốt đẹp, lẽ ra phải được hạnh phúc, nhưng cuộc đời oái oăm đã đẩy nàng vào bi kịch – ngày sum họp cũng là ngày nàng vĩnh viễn lìa xa tổ ấm.
- Bằng chứng: lời Vũ Nương lúc tiễn chồng ra trận (“thiếp chẳng dám mong đeo được ấn phong hầu… chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên, thế là đủ rồi”); những chi tiết về việc nàng làm tròn bổn phận con dâu, vợ, mẹ.
- Luận điểm 2 – Nguyên nhân gây nên bi kịch của Vũ Nương:
- Lí lẽ: Trương Sinh đa nghi, ghen tuông mù quáng, không cho Vũ Nương cơ hội minh oan; mặt khác, Vũ Nương cũng có một phần lỗi vì không hiểu tâm lí chồng.
- Bằng chứng: lời bé Đản về “người đàn ông đêm nào cũng đến”; thái độ “la um lên cho hả giận”, “đánh đuổi” của Trương Sinh; lời than của Vũ Nương trước khi gieo mình xuống sông.
- Luận điểm 3 – Sự kết hợp yếu tố hiện thực và kì ảo trong tác phẩm:
- Lí lẽ: Nguyễn Dữ đã dung hoà giữa hiện thực và ước mơ – yếu tố kì ảo giúp Vũ Nương được minh oan nhưng ảo ảnh ấy chỉ thoáng qua, chia li là vĩnh viễn.
- Bằng chứng: cảnh Vũ Nương hiện về “ở giữa dòng mà nói vọng vào” rồi “loang loáng mờ nhạt dần mà biến đi mất”.
Kết luận: Với Người con gái Nam Xương, Nguyễn Dữ đã đề cập tới bi kịch muôn thuở của con người, vì vậy tác phẩm vẫn có sức hấp dẫn với người đọc ngày nay.

Văn bản: Từ “Thằng quỷ nhỏ” của Nguyễn Nhật Ánh nghĩ về những phẩm chất của một tác phẩm viết cho thiếu nhi (Trần Văn Toàn)
Luận đề: Suy ngẫm về những phẩm chất cần có của một tác phẩm văn học viết cho thiếu nhi.
Hệ thống luận điểm:
- Luận điểm 1 – Nhân dạng khác biệt của Quỳnh và thái độ của mọi người đối với nhân dạng ấy:
- Lí lẽ: Nhân dạng kì dị của Quỳnh đã quyết định toàn bộ nhân cách và vị thế tồn tại của cậu, biến cậu thành kẻ lạc loài; mọi tình cảm bình thường ở Quỳnh đều trở thành khác thường trong mắt bạn bè.
- Bằng chứng: miêu tả ngoại hình Quỳnh (hai vành tai to, chiếc mũi to, đỏ ửng); chi tiết cái bàn chỉ có hai chỗ ngồi với khoảng trống ở giữa; phản ứng “sợ” của Nga đối với Quỳnh.
- Luận điểm 2 – Nhân dạng con người là một tạo tác mang tính văn hoá:
- Lí lẽ: Nhân dạng không chỉ là bề ngoài mà còn được nhào nặn, định giá theo chuẩn mực của cộng đồng; cặp nhị phân bình thường – bất bình thường mặc nhiên loại trừ những gì lệch chuẩn.
- Bằng chứng: trường hợp chú bé Quỳnh; việc các nhân vật trong truyện cổ tích phải trút bỏ lốt ngoài kì dị để có sự hài hoà giữa nhân hình và nhân tính.
- Luận điểm 3 – Những phẩm chất cần có của một tác phẩm văn học viết cho thiếu nhi:
- Lí lẽ + đề xuất:
- Nhận diện đầy đủ về những gì bị đặt ra ngoài chuẩn mực; đánh thức tình yêu thương, sự trân trọng với “tồn tại khác”.
- Không nên biến nhân vật trở thành những nhân vật hoàn hảo.
- Cần viết cho trẻ em từ cái nhìn của một người lớn sâu sắc và từng trải.
- Bằng chứng: cách Nguyễn Nhật Ánh xây dựng các nhân vật Khải, Nga, Luận – những nhân vật không hoàn hảo.
- Lí lẽ + đề xuất:

Câu 2 (trang 110): Chỉ ra sự tương đồng và khác biệt trong cách đặt vấn đề và cách tổ chức luận điểm của hai văn bản. Từ đó, em rút ra bài học gì khi thực hành viết bài văn nghị luận văn học?
a) Sự tương đồng
| Tiêu chí | Cả hai văn bản |
|---|---|
| Thể loại | Đều là văn bản nghị luận văn học |
| Cách đặt vấn đề | Đều đặt vấn đề trực tiếp, rõ ràng |
| Mạch lập luận | Đều đi từ phân tích nhân vật, chi tiết tiêu biểu trong tác phẩm để dẫn đến kết luận |
| Tổ chức luận điểm | Các luận điểm được sắp xếp theo trật tự lô-gíc, chặt chẽ, rõ ràng |
| Cách lập luận | Đều sử dụng lí lẽ kết hợp với bằng chứng cụ thể |
b) Sự khác biệt
| Tiêu chí | “Người con gái Nam Xương” – một bi kịch của con người | Từ “Thằng quỷ nhỏ”… |
|---|---|---|
| Phạm vi vấn đề | Bàn luận trong phạm vi nội dung của chính tác phẩm đang phân tích | Từ một tác phẩm cụ thể (Thằng quỷ nhỏ) suy ngẫm về vấn đề rộng hơn, khái quát hơn: phẩm chất của tác phẩm văn học viết cho thiếu nhi nói chung |
| Cách tổ chức luận điểm | Các luận điểm tập trung làm rõ bi kịch của Vũ Nương trong tác phẩm | Các luận điểm được sắp xếp từ cụ thể đến khái quát: từ phân tích tác phẩm → lí giải vấn đề bằng tri thức nhân học → đề xuất phẩm chất cần có |
c) Bài học rút ra khi viết bài văn nghị luận văn học
- Đặt vấn đề trực tiếp, rõ ràng, gắn với tác phẩm hoặc vấn đề được bàn luận.
- Tổ chức luận điểm chặt chẽ, lô-gíc: có thể đi từ phân tích cụ thể đến khái quát, từ nhận diện → lí giải → đề xuất.
- Lí lẽ và bằng chứng phải hướng vào trọng tâm vấn đề, được chọn lọc và trình bày một cách thuyết phục.
- Có thể từ một tác phẩm cụ thể để mở rộng, suy ngẫm về một vấn đề chung trong văn học và đời sống.
- Bằng chứng nên được trích dẫn đúng quy định (trực tiếp hoặc gián tiếp), thể hiện sự tôn trọng đối với tác giả gốc.
Câu 3 (trang 110): Viết đoạn văn (khoảng 8 – 10 câu) phân tích vẻ đẹp ngôn từ của một đoạn trích truyện thơ Nôm hoặc tác dụng của yếu tố kì ảo trong một truyện truyền kì, trong đó có sử dụng cách dẫn trực tiếp hoặc cách dẫn gián tiếp.
Câu hỏi mở, em có thể tham khảo các cách viết sau.
Đoạn văn tham khảo 1 — Tác dụng của yếu tố kì ảo trong Chuyện người con gái Nam Xương (dùng cách dẫn trực tiếp):
Yếu tố kì ảo có vai trò vô cùng quan trọng trong truyện truyền kì Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ. Trước hết, yếu tố kì ảo giúp hoàn tất hành trình giải oan cho Vũ Nương: sau khi gieo mình xuống sông, nàng được Linh Phi rẽ một đường nước cứu sống, được sống nơi cung nước, rồi hiện về trên bến Hoàng Giang trong cảnh lộng lẫy, uy nghi. Tiếp đến, yếu tố kì ảo còn thể hiện ước mơ của nhân dân về sự công bằng – người tốt dù phải chết oan cũng sẽ được đền đáp. Tuy nhiên, điều đặc sắc nhất là ở chỗ Nguyễn Dữ đã khéo léo dung hoà giữa kì ảo và hiện thực. Như nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Na đã nhận định: “Cái tài của Nguyễn Dữ là ông đã dung hoà được hiện thực với ước mơ, giữa cái tồn tại với cái ảo ảnh.” Quả thực, dù Vũ Nương được giải oan, nàng vẫn không thể trở về với chồng con – “trong chốc lát, bóng nàng loang loáng mờ nhạt dần mà biến đi mất”. Ảo ảnh đoàn tụ thoáng qua, còn chia li mới là vĩnh viễn. Chính sự dung hoà ấy đã tô đậm bi kịch của Vũ Nương: cõi trần đầy bất công không phải là nơi để người phụ nữ đức hạnh có thể tồn tại. Có thể thấy, yếu tố kì ảo vừa làm nên sức hấp dẫn nghệ thuật, vừa làm sâu sắc giá trị nhân đạo của tác phẩm.
Đoạn văn tham khảo 2 — Tác dụng của yếu tố kì ảo trong Dế chọi (dùng cách dẫn gián tiếp):
Truyện Dế chọi trích trong Liêu Trai chí dị của Bồ Tùng Linh hấp dẫn người đọc bởi tính chất kì ảo đậm nét. Yếu tố kì ảo trong truyện được thể hiện qua hai chi tiết tiêu biểu: bức vẽ thần kì của bà đồng gù lưng chỉ chỗ cho Thành tìm được con dế quý, và việc đứa con trai chín tuổi của Thành sau khi nhảy xuống giếng đã hoá thân thành con dế nhỏ kì lạ – tuy nhỏ bé nhưng có thể đánh thắng mọi đối thủ, lại biết nhảy múa theo điệu đàn sáo. Những chi tiết kì ảo ấy đều xuất hiện đúng lúc nhân vật rơi vào bế tắc cùng cực, giúp tháo gỡ tình thế và đẩy câu chuyện phát triển theo chủ ý của tác giả. Trong sách giáo khoa Ngữ văn 9, các nhà biên soạn cũng đã khẳng định rằng yếu tố kì ảo trong truyện truyền kì là phương thức nghệ thuật để phản ánh cuộc sống, qua đó người đọc có thể nhận thấy những vấn đề cốt lõi của hiện thực cũng như quan niệm, thái độ của tác giả. Đúng vậy, qua các chi tiết kì ảo trong Dế chọi, Bồ Tùng Linh đã phơi bày một sự thật phi lí: phải nhờ đến phép màu hoang đường, người dân lương thiện như Thành mới thoát được cảnh khốn cùng. Yếu tố kì ảo vì thế không chỉ tạo nên sự li kì, hấp dẫn cho câu chuyện mà còn làm sâu sắc thêm ý nghĩa phê phán hiện thực của tác phẩm. Có thể nói, đây là một trong những yếu tố làm nên giá trị độc đáo của truyện truyền kì nói chung và Dế chọi nói riêng.

Thầy Nguyễn Thái Nhật Luật
(Người kiểm duyệt, ra đề)
Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Ngữ Văn THCS
Trình độ: Cử nhân Sư phạm Ngữ Văn, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ B1
Kinh nghiệm: 8+ năm kinh nghiệm tại THCS Hồng Bàng
