Soạn bài: Củng cố, mở rộng bài 8 (trang 85) Ngữ Văn 9 tập 2

Câu 1 (trang 85): Kẻ bảng vào vở để hệ thống hoá kiến thức về hai văn bản nghị luận Đấu tranh cho một thế giới hoà bìnhBiến đổi khí hậu – mối đe doạ sự tồn vong của hành tinh chúng ta

Phương diện Đấu tranh cho một thế giới hoà bình

(G.G. Mác-két)

Biến đổi khí hậu – mối đe doạ sự tồn vong của hành tinh chúng ta

(A. Gu-tê-rét)

Vấn đề bàn luận (luận đề) Chạy đua sản xuất vũ khí hạt nhân là đặt nhân loại trước nguy cơ bị huỷ diệt; cần đấu tranh cho một thế giới hoà bình. Tình hình biến đổi khí hậu đang diễn ra hết sức nghiêm trọng, trở thành mối đe doạ sự tồn vong của hành tinh chúng ta.
Các luận điểm chính – LĐ1: Người ta đã bố trí số đầu đạn hạt nhân có khả năng huỷ diệt 12 lần Trái Đất.

– LĐ2: Số tiền bỏ ra cho việc chạy đua vũ trang có thể giải quyết nhiều vấn đề thiết yếu của nhân loại.

– LĐ3: Chạy đua vũ trang là đi ngược lại với lí trí con người và lí trí tự nhiên.

– LĐ1: Một số biểu hiện và hậu quả của biến đổi khí hậu trên thế giới.

– LĐ2: Cần có các giải pháp ứng phó với tình trạng biến đổi khí hậu.

– LĐ3: Trách nhiệm lớn lao của lãnh đạo các quốc gia.

– LĐ4: Tất cả phải hành động, không thể chậm trễ.

Lí lẽ – Mỗi người đang ngồi trên “một thùng 4 tấn thuốc nổ”.

– Nguy cơ ấy như “thanh gươm Đa-mô-clét” treo trên đầu nhân loại.

– So sánh: kinh phí chạy đua vũ trang tốn kém hơn rất nhiều so với chi phí giải quyết các vấn đề thiết yếu.

– Sự sống trải qua hàng triệu năm tiến hoá, chỉ một cái “bấm nút” là tan biến.

– Biến đổi khí hậu là “vấn đề hạn định thời đại”, “quả bom âm thanh SOS”.

“Ngọn núi phía trước rất cao nhưng không phải không thể vượt qua”.

– Các quốc gia giàu nhất chịu trách nhiệm chính, các nước nghèo lại gánh hậu quả nặng nhất.

“Mỗi ngày bỏ lỡ là một ngày bước gần hơn tới số phận không ai mong muốn”.

Bằng chứng – Ngày 8/8/1986, hơn 50 000 đầu đạn hạt nhân đã được bố trí khắp hành tinh.

– 100 tỉ đô la cứu 500 triệu trẻ em nghèo = giá 100 máy bay B.1B và dưới 7000 tên lửa.

– Giá 10 tàu sân bay Ni-mít = cứu 1 tỉ người khỏi sốt rét và 14 triệu trẻ em châu Phi.

– Chỉ 2 tàu ngầm hạt nhân = đủ tiền xoá nạn mù chữ toàn thế giới.

– Băng ở Bắc Cực biến đi nhanh, lớp băng quanh năm ở bắc Grin-len bắt đầu vỡ.

– Nạn cháy rừng kéo dài, lan rộng, làm tan chảy băng nhanh hơn.

– Các đại dương nhiễm a-xít, san hô chết hàng loạt.

– Hàng tỉ người bị đe doạ an ninh lương thực; ngày càng nhiều người phải di cư khỏi quê nhà.

Câu 2 (trang 86): Trình bày ý kiến của em về đề tài: “Chỉ có con người mới cải thiện được tình trạng biến đổi khí hậu trên Trái Đất”. Hãy lập dàn ý, viết phần Mở bài và đoạn đầu của Thân bài.

a) Dàn ý

1. Mở bài: Giới thiệu vấn đề: biến đổi khí hậu là mối đe doạ toàn cầu, chỉ có con người mới có thể cải thiện được tình trạng này.

2. Thân bài:

  • Ý 1: Thực trạng biến đổi khí hậu hiện nay
    • Trái Đất ngày càng nóng lên, băng ở hai cực tan nhanh, nước biển dâng.
    • Thiên tai khắc nghiệt: hạn hán, lũ lụt, bão, cháy rừng… ngày càng dữ dội.
    • Hệ sinh thái bị huỷ hoại, nhiều loài đứng trước nguy cơ tuyệt chủng.
  • Ý 2: Vì sao chỉ có con người mới cải thiện được tình trạng này?
    • Con người chính là nguyên nhân chủ yếu gây ra biến đổi khí hậu (đốt nhiên liệu hoá thạch, phá rừng, xả thải…).
    • Con người có trí tuệ, khoa học công nghệ để tìm ra giải pháp.
    • Không một sinh vật nào khác có khả năng thay đổi hành vi, hệ thống xã hội để cứu Trái Đất.
  • Ý 3: Con người cần làm gì để cải thiện?
    • Cấp quốc gia: cắt giảm khí thải, phát triển năng lượng sạch, bảo vệ rừng.
    • Cấp cộng đồng: tuyên truyền, giáo dục ý thức bảo vệ môi trường.
    • Cấp cá nhân: tiết kiệm năng lượng, hạn chế rác thải nhựa, trồng cây xanh, sử dụng phương tiện công cộng…

3. Kết bài: Khẳng định lại vấn đề; kêu gọi mỗi người hành động ngay từ hôm nay vì tương lai của Trái Đất; liên hệ bản thân.

b) Mở bài và đoạn đầu Thân bài

Em có thể tham khảo một trong hai cách viết sau.

Cách 1:

Mở bài: “Hãy cứu lấy Trái Đất!” – tiếng kêu cứu ấy đang vang lên khắp nơi trên thế giới. Biến đổi khí hậu không còn là vấn đề của tương lai xa mà đã trở thành mối đe doạ trực tiếp đến sự sống của loài người và muôn loài. Trong cuộc chiến chống lại sự nóng lên của hành tinh, có một sự thật không thể chối cãi: chỉ có con người mới có thể cải thiện được tình trạng biến đổi khí hậu trên Trái Đất. Ý kiến đó hoàn toàn đúng đắn và đáng để chúng ta suy ngẫm sâu sắc.

Đoạn đầu Thân bài: Trước hết, hãy nhìn vào thực trạng đáng báo động của Trái Đất hôm nay. Theo các nhà khoa học, nhiệt độ trung bình của hành tinh đã tăng đáng kể trong vài thập kỉ qua. Băng ở Bắc Cực và Nam Cực tan với tốc độ chưa từng có, khiến mực nước biển dâng cao, đe doạ nhấn chìm nhiều vùng đất ven biển. Cháy rừng, lũ lụt, hạn hán xảy ra ngày một dữ dội ở nhiều nơi trên thế giới. Các loài sinh vật mất môi trường sống, đứng trước nguy cơ tuyệt chủng. An ninh lương thực bị đe doạ nghiêm trọng khi mùa màng thất bát. Trước thực trạng ấy, chúng ta không thể đứng nhìn – và sự thật là, chỉ có chính chúng ta – con người – mới có thể làm điều gì đó để thay đổi.

Cách 2:

Mở bài: Trái Đất – ngôi nhà chung của nhân loại – đang ngày một nóng lên với tốc độ đáng báo động. Băng tan, nước biển dâng, thiên tai khắc nghiệt… tất cả đang gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh về tương lai của hành tinh. Một câu hỏi lớn được đặt ra: ai sẽ là người cứu lấy Trái Đất? Câu trả lời nằm ở chính chúng ta. Bởi chỉ có con người mới có thể cải thiện được tình trạng biến đổi khí hậu trên Trái Đất – đó là một sự thật mà mỗi chúng ta cần thẳng thắn thừa nhận và hành động ngay.

Đoạn đầu Thân bài: Để hiểu vì sao chỉ con người mới có thể cải thiện tình trạng biến đổi khí hậu, trước hết cần nhìn nhận thực trạng đáng lo ngại đang diễn ra. Theo Tổng Thư kí Liên hợp quốc An-tô-ni-ô Gu-tê-rét, biến đổi khí hậu hiện đang là “mối đe doạ trực tiếp đến sự tồn vong” của loài người. Băng ở Bắc Cực đang biến đi nhanh hơn mọi dự đoán, các đại dương nhiễm a-xít nặng, san hô chết hàng loạt, nạn cháy rừng kéo dài và lan rộng… Hàng tỉ người đang đứng trước nguy cơ mất an ninh lương thực, hàng triệu người buộc phải di cư khỏi quê nhà vì đất đai không còn sản sinh hoa lợi. Bức tranh ảm đạm ấy buộc chúng ta phải tự hỏi: ai sẽ là người thay đổi tình thế này?

Câu 3 (trang 86): Dựa vào dàn ý của bài viết ở câu 2 để lập dàn ý cho bài thuyết trình; dựa vào dàn ý đó để tập trình bày bài nói.

a) Dàn ý bài thuyết trình

1. Mở đầu:

  • Chào hỏi thầy cô và các bạn.
  • Giới thiệu bản thân (nếu cần).
  • Giới thiệu đề tài: “Chỉ có con người mới cải thiện được tình trạng biến đổi khí hậu trên Trái Đất”.
  • Nêu lí do chọn đề tài.

2. Nội dung chính:

  • Thực trạng: Biến đổi khí hậu đang diễn ra nghiêm trọng (dẫn chứng: băng tan, nước biển dâng, thiên tai khắc nghiệt…).
  • Lí giải vì sao chỉ có con người mới cải thiện được:
    • Con người là nguyên nhân chính gây ra biến đổi khí hậu.
    • Con người có trí tuệ, công nghệ để tìm giải pháp.
    • Sự thay đổi cần đến ý thức và hành động của chính con người.
  • Giải pháp cụ thể:
    • Cấp quốc gia, cộng đồng và cá nhân.
  • Liên hệ trách nhiệm bản thân: học sinh có thể làm gì để góp phần bảo vệ Trái Đất.

3. Kết thúc:

  • Khẳng định lại vấn đề.
  • Kêu gọi mọi người cùng hành động.
  • Cảm ơn thầy cô và các bạn đã lắng nghe.
b) Phần mở đầu bài nói tham khảo

“Kính thưa thầy/cô và các bạn,

Trong những năm gần đây, chúng ta liên tục nghe những thông tin đáng lo ngại: băng ở hai cực tan nhanh chưa từng có, nước biển dâng đe doạ nhấn chìm nhiều vùng đất, thiên tai ngày càng khốc liệt… Tất cả đều là biểu hiện của biến đổi khí hậu – mối đe doạ sự tồn vong của hành tinh chúng ta. Vậy ai sẽ là người cứu lấy Trái Đất? Hôm nay, em xin trình bày ý kiến của mình về đề tài: ‘Chỉ có con người mới cải thiện được tình trạng biến đổi khí hậu trên Trái Đất’. Em mong nhận được sự lắng nghe và góp ý của thầy/cô cùng các bạn…”

→ Sau đó, em lần lượt trình bày các ý chính theo dàn ý đã lập, kết hợp với giọng nói rõ ràng, truyền cảm, giao tiếp bằng ánh mắt với người nghe, sử dụng cử chỉ phù hợp và có thể kèm theo hình ảnh minh hoạ (nếu có).

Câu 4 (trang 86): Tìm đọc hai văn bản nghị luận xã hội, ghi vắn tắt vào vở các thông tin: luận đề, các luận điểm chính, cách sử dụng lí lẽ và bằng chứng, mối liên hệ giữa vấn đề nghị luận với đời sống.

Em có thể tham khảo bảng gợi ý với hai văn bản nghị luận xã hội tiêu biểu sau:

Phương diện Bàn về đọc sách

(Chu Quang Tiềm)

Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới

(Vũ Khoan)

Luận đề Khẳng định tầm quan trọng của việc đọc sách và bàn về phương pháp đọc sách đúng đắn. Lớp trẻ Việt Nam cần nhận thức được những điểm mạnh, điểm yếu của con người Việt Nam để chuẩn bị hành trang bước vào thế kỉ mới.
Các luận điểm chính – Đọc sách là con đường quan trọng để tích luỹ và nâng cao học vấn.

– Việc đọc sách hiện nay có những khó khăn, nguy hại (sách nhiều khiến đọc không chuyên sâu, sách nhiều dễ lạc hướng).

– Cần lựa chọn sách và có phương pháp đọc đúng đắn.

– Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới là quan trọng nhất.

– Bối cảnh thế giới hiện nay và mục tiêu của đất nước.

– Người Việt Nam có những điểm mạnh và điểm yếu cần nhìn nhận khi bước vào nền kinh tế mới.

Cách sử dụng lí lẽ và bằng chứng Lí lẽ chặt chẽ, sâu sắc; bằng chứng cụ thể, gần gũi (so sánh đọc sách với việc ăn uống, đánh trận…); cách lập luận giàu hình ảnh, dễ hiểu. Lí lẽ thuyết phục, đối sánh điểm mạnh – điểm yếu rõ ràng; bằng chứng từ thực tế đời sống và đặc điểm con người Việt Nam; lời văn giản dị, chân thành.
Mối liên hệ với đời sống Là bài học quý giá cho mọi thế hệ: đọc sách không chỉ để có kiến thức mà còn để rèn luyện nhân cách, tư duy. Trong thời đại bùng nổ thông tin, việc chọn lọc và đọc sách đúng cách càng cấp thiết. Có ý nghĩa thời sự sâu sắc với thế hệ trẻ Việt Nam: giúp các bạn trẻ nhận thức rõ về bản thân, dân tộc; rèn luyện và phát huy điểm mạnh, khắc phục điểm yếu để hội nhập và phát triển.

Lưu ý: Em có thể chọn hai văn bản nghị luận xã hội khác mà em yêu thích để hệ thống hoá theo bảng trên, miễn là đáp ứng đầy đủ các thông tin yêu cầu.

Thầy Nguyễn Thái Nhật Luật

Thầy Nguyễn Thái Nhật Luật

(Người kiểm duyệt, ra đề)

Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Ngữ Văn THCS

Trình độ: Cử nhân Sư phạm Ngữ Văn, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ B1

Kinh nghiệm: 8+ năm kinh nghiệm tại THCS Hồng Bàng