Ôn tập học kì I (Phiếu học tập số 1) – Ngữ văn 9 tập 1

Mục lục [Ẩn]

Chọn đến phần học sinh cần nhanh chóng thông qua mục lục bằng cách click đến phần đó

1. Đọc

a) Đọc văn bản

Văn bản: Khóc Dương Khuê (trích) – Nguyễn Khuyến.

b) Thực hiện các yêu cầu

Chọn phương án đúng

Câu 1: Những dấu hiệu nào cho thấy đoạn trích mang đặc điểm của thể thơ song thất lục bát?

Đáp án: B. Số tiếng trong các câu thơ và cách hiệp vần giữa các câu thơ liền nhau.

(Đoạn trích có sự xen kẽ giữa các cặp câu 7 tiếng và cặp câu lục bát (6 – 8 tiếng) – đặc trưng cơ bản của thể thơ song thất lục bát.)

Câu 2: Cách hiệp vần nào được sử dụng trong đoạn trích trên?

Đáp án: A. Tất cả các câu liền nhau đều hiệp vần với nhau.

Câu 3: Trạng thái cảm xúc gì của nhà thơ được thể hiện trong hai câu thơ: “Làm sao bác vội về ngay,/ Chợt nghe tôi bỗng chân tay rụng rời”?

Đáp án: B. Thảng thốt, hụt hẫng.

(Hình ảnh “chân tay rụng rời” diễn tả sự bàng hoàng, hụt hẫng đến tột độ khi nghe tin bạn mất.)

Câu 4: Trong hai câu thơ “Ai chẳng biết chán đời là phải/ Vội vàng sao đã mải lên tiên”, biện pháp tu từ nào được sử dụng?

Đáp án: D. Nói giảm nói tránh.

(Cụm từ “mải lên tiên” là cách nói tránh để chỉ cái chết, làm giảm bớt cảm giác đau buồn.)

Câu 5: Nhận định nào nêu đúng nội dung chính của đoạn trích?

Đáp án: C. Đoạn trích là tiếng lòng bi thiết của tác giả khi nghe tin bạn quý vừa mất.

Trả lời câu hỏi

Câu 1: Tâm trạng của tác giả được thể hiện như thế nào trong đoạn trích?

Tâm trạng của Nguyễn Khuyến trong đoạn trích diễn biến qua nhiều cung bậc:

  • Vui mừng khi nhớ lại lần gặp bạn ba năm trước, thấy người bạn già “tinh thần chưa can” (chưa suy yếu).
  • Bàng hoàng, hụt hẫng khi nghe tin bạn mất: “chân tay rụng rời”.
  • Đau xót, tiếc thương trước cái chết quá đỗi vô lí của bạn.
  • Cô đơn, trống vắng khi mất đi người tri âm tri kỉ: không còn hứng thú với rượu ngon, thơ phú, đàn ca.
  • Nén nỗi đau vào lòng vì không biết san sẻ cùng ai: “Tôi tuy thương, lấy nhớ làm thương”.

Câu 2: Những biểu hiện nào cho thấy tình cảm sâu nặng giữa tác giả và người bạn của mình?

Tình cảm sâu nặng giữa nhà thơ và người bạn được thể hiện qua nhiều biểu hiện:

  • Quan tâm, hỏi han nhau khi gặp gỡ: “Cầm tay hỏi hết xa gần”; vui khi thấy bạn tuy già nhưng tinh thần còn minh mẫn.
  • Đau đớn, thảng thốt đến mức “chân tay rụng rời” khi nghe tin bạn mất.
  • Khi không còn bạn tri âm, chẳng còn thiết tha với những thú vui tao nhã: rượu ngon không buồn mua, thơ hay không muốn viết, đàn quý cũng “ngẩn ngơ”.
  • Nỗi nhớ thương sâu sắc trước cảnh kẻ mất người còn: “Tôi tuy thương, lấy nhớ làm thương”; “Tuổi già hạt lệ như sương”.

Câu 3: Chỉ ra các từ láy được sử dụng trong đoạn trích và phân tích hiệu quả nghệ thuật ở từng trường hợp.

Từ láy Câu thơ Hiệu quả nghệ thuật
vội vàng “Vội vàng sao đã mải lên tiên” Diễn tả sự gấp gáp, đột ngột của cái chết, nhấn mạnh nỗi ngỡ ngàng, không tin được của nhà thơ trước sự ra đi quá nhanh của bạn.
đắn đo “Câu thơ nghĩ đắn đo không viết” Làm thơ vốn là việc bộc lộ cảm xúc tự nhiên, nay phải cân nhắc giữa làm và không làm → tin bạn mất đã chi phối sâu sắc mọi hoạt động sống của nhà thơ.
hững hờ “Giường kia treo cũng hững hờ” Câu thơ vốn nhắc điển tích về tình bạn ấm áp; dùng “hững hờ” gắn với điển này hàm ý: mọi thứ xưa ấm áp nay trở nên lạnh nhạt, vô nghĩa khi bạn đã mất.
chứa chan “Hơi đâu ép lấy hai hàng chứa chan” Tuổi già nước mắt “như sương”, không cần ép vẫn ứa ra tự nhiên → dù chẳng “chứa chan” thì tình cảm vẫn vô cùng sâu đậm.

Câu 4: Em cần làm gì để biết ý nghĩa của các điển tích được tác giả sử dụng trong đoạn trích? Phân tích tác dụng của các điển tích đó.

a) Cách hiểu ý nghĩa điển tích:

  • Cần xem chú thích (cước chú) ở chân trang văn bản để biết những câu thơ nào có dùng điển tích và ý nghĩa của chúng.
  • Có thể tra cứu tài liệu, từ điển điển tích, điển cố khi cần hiểu sâu hơn.

b) Các điển tích trong đoạn trích:

  • Điển tích “giường kia treo cũng hững hờ” (cước chú 3): nhắc đến tích Trần Phồn thời Hậu Hán treo giường để dành riêng tiếp bạn.
  • Điển tích “đàn kia gẩy cũng ngẩn ngơ tiếng đàn” (cước chú 4): nhắc đến tích Bá Nha – Tử Kì; sau khi Tử Kì mất, Bá Nha đập đàn không chơi vì không còn người tri âm.

c) Tác dụng:

  • Cả hai điển tích đều thể hiện trạng thái tinh thần hụt hẫng, trống trải của nhà thơ khi nghe tin bạn thân mất.
  • Nguyễn Khuyến dùng điển sáng tạo, khiến câu thơ vừa mang tính chất uyên bác, màu sắc cổ điển vừa giữ được tính biểu cảm tinh tế, mới mẻ.
  • Tạo cho tình bạn giữa nhà thơ và Dương Khuê thêm chiều sâu văn hoá, sánh ngang với những tình bạn tri kỉ nổi tiếng trong lịch sử.

Câu 5: Ở những câu thơ sau, biện pháp tu từ điệp ngữ có tác dụng như thế nào trong việc diễn tả các cung bậc cảm xúc của nhà thơ?

a) Các biểu hiện của điệp ngữ:

  • Điệp từ: không có – không mua – không phải – không tiền – không mua; viết – viết đưa ai; ai – ai.
  • Điệp cấu trúc: “Giường kia treo cũng… / Đàn kia gẩy cũng…”.

b) Tác dụng:

  • Tạo nên âm hưởng day dứt, các câu thơ “vấn vít, xoắn quyện” lấy nhau.
  • Cảm giác trống vắng, lạnh lẽo, cô đơn cứ lặp đi lặp lại như xoáy vào lòng người đọc.
  • Diễn tả chân thực nỗi đau câm lặng và sự hụt hẫng tột cùng của nhà thơ khi mất đi người tri âm tri kỉ – không còn ai để chia sẻ niềm vui rượu ngon, không còn ai để gửi câu thơ tâm đắc, không còn ai cùng nghe tiếng đàn.

2. Viết

Viết bài văn phân tích trích đoạn bài thơ Khóc Dương Khuê ở phần Đọc.

Bài viết tham khảo:

Trong kho tàng thơ ca trung đại Việt Nam, hiếm có bài thơ nào viết về tình bạn lại xúc động và sâu lắng như Khóc Dương Khuê của Nguyễn Khuyến. Được sáng tác năm 1902 khi người bạn tri kỉ Dương Khuê qua đời, bài thơ là tiếng lòng bi thiết, là tiếng khóc nghẹn ngào của nhà thơ trước nỗi mất mát lớn lao. Đoạn trích trong sách giáo khoa đã thể hiện trọn vẹn diễn biến tâm trạng đau đớn, hụt hẫng và nỗi cô đơn của Nguyễn Khuyến khi nghe tin bạn mất.

Mở đầu đoạn trích là dòng hồi tưởng về lần gặp gỡ cuối cùng giữa hai người bạn già:

“Bác già, tôi cũng già rồi, Biết thôi, thôi thế thì thôi mới là! Muốn đi lại tuổi già thêm nhác, Trước ba năm gặp bác một lần; Cầm tay hỏi hết xa gần, Mừng rằng bác vẫn tinh thần chưa can.”

Lời thơ nhẹ nhàng, đầy chất khẩu ngữ, gợi lên hình ảnh hai người bạn già cầm tay nhau hàn huyên tâm sự. Cách xưng hô “bác – tôi” thân mật, gần gũi cho thấy tình cảm gắn bó keo sơn của hai con người đã đi qua bao thăng trầm cuộc đời. Niềm vui khi gặp nhau, niềm mừng vì bạn vẫn “tinh thần chưa can” trở thành chỗ dựa tinh thần quý giá của nhà thơ trong những năm tháng tuổi già.

Thế nhưng, ngay sau khoảnh khắc ấm áp ấy là cú giáng định mệnh:

“Kể tuổi tôi còn hơn tuổi bác, Tôi lại đau trước bác mấy ngày; Làm sao bác vội về ngay, Chợt nghe, tôi bỗng chân tay rụng rời.”

Lẽ ra Nguyễn Khuyến – người hơn tuổi và lại đang ốm đau – phải đi trước, vậy mà số phận lại trớ trêu cướp đi người bạn của ông. Hình ảnh “chân tay rụng rời” diễn tả nỗi bàng hoàng, hụt hẫng đến tột cùng. Đó là cú sốc không thể tin nổi, là nỗi đau câm lặng không thốt nên lời. Câu hỏi “Làm sao bác vội về ngay” vừa là lời trách móc nhẹ nhàng, vừa là tiếng kêu đau đớn của một con tim chưa kịp chuẩn bị cho sự chia li.

Tiếp đó, nhà thơ rơi vào trạng thái cô đơn, trống vắng tột độ:

“Ai chẳng biết chán đời là phải, Vội vàng sao đã mải lên tiên; Rượu ngon không có bạn hiền, Không mua không phải không tiền không mua. Câu thơ nghĩ đắn đo không viết, Viết đưa ai, ai biết mà đưa?”

Biện pháp nói giảm nói tránh trong “mải lên tiên” khiến cái chết hiện ra nhẹ nhàng hơn nhưng cũng đau xót hơn. Đặc biệt, biện pháp điệp ngữ “không” được lặp đi lặp lại như tiếng nấc nghẹn ngào: không bạn hiền, không mua, không phải, không tiền, không viết… Mỗi chữ “không” là một khoảng trống mênh mông trong lòng nhà thơ. Rượu ngon vẫn còn đó nhưng không còn ai để cùng nâng chén; câu thơ vẫn nảy nở trong đầu nhưng “viết đưa ai, ai biết mà đưa”. Mất Dương Khuê là mất đi cả niềm vui sống, mất đi người tri âm hiểu thấu tâm hồn.

Tiếp tục mạch cảm xúc ấy, Nguyễn Khuyến sử dụng hai điển tích đầy ý vị:

“Giường kia treo cũng hững hờ, Đàn kia gẩy cũng ngẩn ngơ tiếng đàn.”

Điển tích giường treo nhắc đến Trần Phồn thời Hậu Hán treo giường để dành riêng tiếp bạn; điển tích đàn nhắc đến tích Bá Nha – Tử Kì, Bá Nha đập đàn khi Tử Kì mất vì không còn người tri âm. Hai điển tích sánh ngang tình bạn của Nguyễn Khuyến – Dương Khuê với những tình bạn tri kỉ vĩ đại trong lịch sử. Các từ láy “hững hờ”, “ngẩn ngơ” càng tô đậm cảm giác lạnh lẽo, trống trải: vật vẫn còn đó nhưng đã trở nên vô nghĩa khi không còn người tri âm.

Khép lại đoạn trích là bốn câu thơ đầy day dứt:

“Bác chẳng ở dẫu van chẳng ở, Tôi tuy thương lấy nhớ làm thương; Tuổi già hạt lệ như sương, Hơi đâu ép lấy hai hàng chứa chan!”

Nhà thơ chấp nhận sự thật phũ phàng nhưng vẫn không nguôi nỗi thương nhớ. Hình ảnh ẩn dụ “hạt lệ như sương” thật tinh tế: tuổi già nước mắt đã cạn, chỉ còn nhỏ giọt như sương, nhưng nỗi đau bên trong lại sâu thẳm vô cùng. Nguyễn Khuyến không cần “ép” mà nước mắt vẫn ứa ra tự nhiên – đó chính là biểu hiện sâu sắc nhất của tình bạn thuỷ chung son sắt.

Đoạn trích Khóc Dương Khuê là một tác phẩm xuất sắc về tình bạn trong thơ ca trung đại Việt Nam. Bằng thể thơ song thất lục bát giàu nhạc điệu, ngôn ngữ giản dị nhưng tinh tế, kết hợp khéo léo các biện pháp tu từ (điệp ngữ, nói giảm nói tránh, ẩn dụ) và các điển tích cổ điển, Nguyễn Khuyến đã khắc hoạ thành công nỗi đau mất bạn và vẻ đẹp cao cả của tình bạn tri âm tri kỉ. Bài thơ không chỉ là tiếng khóc cho một con người mà còn là bài ca bất hủ về một thứ tình cảm thiêng liêng trong cuộc đời mỗi con người.

3. Nói và nghe

Thảo luận về vai trò của tình bạn trong cuộc sống.

Bài nói tham khảo:

Kính chào thầy cô và các bạn. Sau khi cùng nhau cảm nhận tiếng lòng bi thiết của Nguyễn Khuyến trong Khóc Dương Khuê, hôm nay em xin được trình bày suy nghĩ của mình về vai trò của tình bạn trong cuộc sống.

Trước hết, tình bạn là gì? Đó là tình cảm gắn bó giữa những con người có sự đồng điệu về tâm hồn, chia sẻ với nhau những niềm vui, nỗi buồn, cùng nhau trưởng thành. Không phân biệt giàu nghèo, tuổi tác hay vùng miền, tình bạn đến với mỗi người một cách tự nhiên và để lại dấu ấn không phai trong cuộc đời.

Vai trò đầu tiên của tình bạn là chỗ dựa tinh thần vững chắc. Khi vui, ta có bạn để chia sẻ niềm hạnh phúc; khi buồn, ta có bạn để giãi bày tâm sự. Như Nguyễn Khuyến trong Khóc Dương Khuê, ông đã có một người bạn tri kỉ để cùng nâng chén rượu, cùng đàm đạo thơ ca suốt mấy chục năm. Mất đi người bạn ấy, nhà thơ thấy “rượu ngon không có bạn hiền”, mọi niềm vui trong đời cũng vơi cạn theo. Điều đó cho thấy một người bạn tốt có thể trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần của chúng ta.

Vai trò thứ hai là tình bạn giúp con người trưởng thành và hoàn thiện bản thân. Người bạn tốt sẽ thẳng thắn góp ý khi ta sai, động viên khi ta vấp ngã, cùng ta học tập và rèn luyện. Một tấm gương rất đáng trân trọng là đôi bạn Minh Hiếu và Tất Minh ở Thanh Hoá – suốt 10 năm Minh Hiếu cõng người bạn khuyết tật của mình đến trường. Cả hai đều đỗ đại học với kết quả xuất sắc. Đó là minh chứng cho tình bạn không chỉ là chia sẻ mà còn là cùng nhau vươn lên.

Vai trò thứ ba là tình bạn mở rộng tâm hồn và thế giới quan. Mỗi người bạn mang đến cho ta một góc nhìn mới, một trải nghiệm mới, giúp ta học hỏi và trưởng thành. Nhờ có bạn, chúng ta hiểu thêm về cuộc sống, biết yêu thương, sẻ chia và tôn trọng sự khác biệt.

Tuy nhiên, không phải tình bạn nào cũng đẹp. Trong cuộc sống vẫn tồn tại những kiểu “bạn” lợi dụng, ganh ghét, đố kị, xúi giục nhau làm điều sai trái. Vì vậy, mỗi chúng ta cần biết lựa chọn bạn để chơibiết vun đắp tình bạn bằng sự chân thành, thấu hiểu và tin tưởng. Một tình bạn đẹp phải dựa trên nền tảng của lòng chân thật, sự bao dung và mong muốn cùng nhau tốt đẹp hơn.

Là học sinh, em nghĩ rằng mỗi chúng ta hãy biết trân trọng những người bạn xung quanh mình, mạnh dạn nói lời cảm ơn khi được giúp đỡ, sẵn sàng tha thứ khi có hiểu lầm và đặc biệt là không bao giờ lợi dụng hay phản bội bạn bè. Bởi vì như Nguyễn Khuyến đã chứng minh: một tình bạn chân thành có thể sống mãi trong lòng người, vượt qua mọi cách biệt của không gian và thời gian.

Em xin kết thúc bài nói tại đây. Cảm ơn thầy cô và các bạn đã lắng nghe!

Thầy Nguyễn Thái Nhật Luật

Thầy Nguyễn Thái Nhật Luật

(Người kiểm duyệt, ra đề)

Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Ngữ Văn THCS

Trình độ: Cử nhân Sư phạm Ngữ Văn, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ B1

Kinh nghiệm: 8+ năm kinh nghiệm tại THCS Hồng Bàng