Ôn tập học kì I (Phiếu học tập số 2) – Ngữ văn 9 tập 1

Mục lục [Ẩn]

Chọn đến phần học sinh cần nhanh chóng thông qua mục lục bằng cách click đến phần đó

1. Đọc

a) Đọc văn bản

Văn bản: Một nét nổi bật trong sáng tác của Nam Cao (trích Nam Cao và khát vọng về một cuộc sống lương thiện, xứng đáng) – Nguyễn Văn Hạnh.

b) Thực hiện các yêu cầu

Chọn phương án đúng

Câu 1: Người viết đánh giá cao sở trường nào của Nam Cao trong sáng tạo văn học?

Đáp án: C. Khắc hoạ sắc nét tính cách nhân vật.

(Tác giả khẳng định Nam Cao có sở trường trong xây dựng nhân vật qua nghệ thuật miêu tả ngoại hình, khắc hoạ tính cách và phân tích nội tâm.)

Câu 2: “Nhiều nhân vật của Nam Cao là những con người hiền lành, chất phác, nhưng đời sống quá vất vả, cơ cực.” – sau câu văn này, tác giả triển khai đoạn văn theo hướng nào?

Đáp án: B. Chứng minh cho ý của câu vừa nêu, sau đó khái quát lại.

Câu 3: Tên một số tác phẩm của Nam Cao được nhắc đến ở bài viết nhằm mục đích gì?

Đáp án: A. Minh hoạ cho ý kiến được tác giả nêu trước đó.

Câu 4: Dòng nào sau đây nêu đúng những nét chung giữa các nhân vật trong truyện của Nam Cao?

Đáp án: D. Đó là những kiếp người đau khổ, bất hạnh.

Câu 5: Theo nội dung đoạn trích, điều gì không có tác dụng tạo nên sức hấp dẫn của truyện Nam Cao?

Đáp án: B. Mục đích sáng tác và hoàn cảnh ra đời của từng tác phẩm.

(Tác giả không đề cập đến yếu tố này; sức hấp dẫn của truyện Nam Cao đến từ nghệ thuật xây dựng nhân vật, cách nhìn đời, tấm lòng và giọng trữ tình.)

Trả lời câu hỏi

Câu 1: Có thể xem văn bản Một nét nổi bật trong sáng tác của Nam Cao thuộc loại văn bản nghị luận văn học được không? Vì sao?

Có thể xem văn bản Một nét nổi bật trong sáng tác của Nam Cao là một văn bản nghị luận văn học. Vì:

  • Luận đề của văn bản: vấn đề nhân vật trong truyện của Nam Cao.
  • Hệ thống luận điểm rõ ràng:
    • Sở trường của Nam Cao trong xây dựng nhân vật (miêu tả ngoại hình, khắc hoạ tính cách, phân tích nội tâm).
    • Đặc điểm thế giới nhân vật trong truyện Nam Cao (chủ yếu là tầng lớp lao động nghèo, người “dưới đáy” xã hội).
    • Cái nhìn của tác giả đối với đời sống và tấm lòng đối với con người được thể hiện qua hệ thống nhân vật.
  • Lí lẽ và bằng chứng: các luận điểm đều được làm sáng tỏ bởi lí lẽ chặt chẽbằng chứng lấy từ tác phẩm của Nam Cao (Chí Phèo, Lão Hạc, Sống mòn, Đời thừa…).

Câu 2: Nhận xét về cách sử dụng lí lẽ và bằng chứng của tác giả trong văn bản.

a) Về lí lẽ:

  • Các lí lẽ được sử dụng đều là những nhận định sâu sắc, có cơ sở: “Nam Cao thật ra không miêu tả các thành phần xã hội, mà đi sâu vào các số phận, các kiếp người”; “các nhân vật của Nam Cao tô đậm thêm bộ mặt cùng quẫn, mất nhân tính của xã hội”; “truyện của Nam Cao có sự kết hợp giữa năng lực quan sát, miêu tả với giọng trữ tình kín đáo, thiết tha”
  • Các lí lẽ thể hiện vốn kiến thức sâu rộng của người viết về bối cảnh văn học, về thể loại truyện và khả năng cảm thụ tinh tế các tác phẩm của Nam Cao.

b) Về bằng chứng:

  • Bằng chứng phong phú, đa dạng, được lấy từ chính các tác phẩm của Nam Cao:
    • Truyện thể hiện sức sống vượt thời đại: Chí Phèo, Lão Hạc, Sống mòn.
    • Truyện về những số phận hẩm hiu: Nghèo, Dì Hảo, Lão Hạc, Một bữa no, Từ ngày mẹ chết, Ở hiền
    • Truyện về những trí thức băn khoăn về ý nghĩa cuộc sống: Trăng sáng (Điền), Đời thừa (Hộ), Truyện người hàng xóm (Lộc), Sống mòn (Thứ).
    • Những nhân vật để lại ấn tượng sâu đậm: Chí Phèo, Thị Nở, lão Hạc, Thứ, Hoàng.

Bằng chứng luôn gắn chặt với luận điểm, củng cố lí lẽ và làm tăng tính thuyết phục cho bài viết.

Câu 3: Tác giả đã lí giải như thế nào về sự thành công của Nam Cao trong sáng tác văn học?

Sự thành công của Nam Cao được tác giả lí giải trên ba khía cạnh chính:

  • Sở trường xây dựng nhân vật: Nam Cao đặc biệt thành công với những nhân vật là người cùng khổ, “dưới đáy” xã hội – những con người “bị tha hoá, bị què quặt cả về thể xác và tinh thần”; cùng với đó là những trí thức có ý thức về thân phận và phẩm giá (Điền, Hộ, Lộc, Thứ…).
  • Sức mạnh của tư duy nghệ thuật thể hiện qua hình tượng: các nhân vật của Nam Cao đều có tính cách nổi bật, mang chất đời thườngsự sinh động đặc biệt.
  • Cái nhìn sâu sắc đối với đời sống và tấm lòng đối với con người: kết hợp giữa năng lực quan sát, miêu tả với giọng trữ tình kín đáo, thiết tha, vừa xót thương người bất hạnh, vừa chua chát trước những điều nhố nhăng, luôn khát khao hướng về cái nhân bản, tốt đẹp.

Câu 4: Những nội dung nào đã triển khai trong bài viết cho phép tác giả đi đến kết luận: “Đọc Nam Cao, con người muốn sống chu đáo hơn, nhân ái hơn”?

Để đi đến kết luận trên, tác giả đã triển khai hai nội dung cơ bản:

  • Thứ nhất: Thế giới nhân vật trong truyện Nam Cao phần lớn là những con người đau khổ, đáng cảm thương – những người già không nơi nương tựa, em bé mồ côi, người đàn bà không hạnh phúc, người điên, người câm, kẻ lưu manh… Đọc về họ, người đọc không thể không xúc động, không thể không suy nghĩ về thân phận con người trong xã hội.
  • Thứ hai: Nam Cao thể hiện cái nhìn nhân hậutấm lòng xót thương đối với những kiếp người bất hạnh. Ông “trân trọng mọi biểu hiện của sự sống, trăn trở, đau buồn nhưng không bao giờ mất hi vọng”.

→ Hai điều đó cùng tác động vào tâm hồn người đọc, khiến họ tự rút ra bài học ứng xử với cuộc đời và con người: sống có trách nhiệm hơn, biết yêu thương và chia sẻ hơn.

Câu 5: Văn bản trên giúp em hiểu được những gì về nhà văn Nam Cao?

Đọc văn bản, em hiểu thêm về nhà văn Nam Cao trên các phương diện:

  • Bối cảnh sống và sáng tác: Nam Cao (1917 – 1951) là nhà văn xuất sắc trong nền văn học Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945; sau 1945 tham gia kháng chiến chống Pháp và hi sinh trong một chuyến công tác.
  • Tầm vóc và vị trí: Ông là một trong những nhà văn xuất sắc nhất của nền văn học hiện đại Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX, cùng với Vũ Trọng Phụng.
  • Thể loại chủ yếu: truyện (nhất là truyện ngắn).
  • Sở trường: xây dựng nhân vật – đặc biệt là những nhân vật cùng khổ, dưới đáy xã hội và những trí thức tiểu tư sản băn khoăn về ý nghĩa cuộc sống.
  • Phong cách nghệ thuật: kết hợp quan sát, miêu tả tinh tế với giọng trữ tình kín đáo, thiết tha; thể hiện cái nhìn nhân hậu, tấm lòng xót thương đối với con người.

2. Viết

Viết bài văn nghị luận phân tích một truyện ngắn được sáng tác trong những năm gần đây.

Bài viết tham khảo: Phân tích truyện ngắn Bí ẩn của làn nước (Bảo Ninh)

Bảo Ninh là nhà văn nổi tiếng với những trang viết sâu sắc về chiến tranh và thân phận con người sau chiến tranh. Truyện ngắn Bí ẩn của làn nước in trong tập Những truyện ngắn của ông là một tác phẩm xúc động, nhỏ về dung lượng nhưng lớn về ý nghĩa. Tác phẩm đã khắc hoạ thành công nỗi đau mất mát và lòng vị tha cao cả của một người cha – qua đó, gợi lên trong lòng người đọc những suy ngẫm sâu xa về tình yêu thương, lòng nhân ái giữa con người với con người.

Trước hết, Bí ẩn của làn nước có một cốt truyện cô đọng nhưng đầy ám ảnh. Câu chuyện xoay quanh sự kiện đêm Rằm tháng Bảy – thời điểm vừa đỉnh lũ vừa vỡ đê ở quê hương nhân vật “tôi”. Bom Mỹ đã phá tan vệt đê, nước lũ cuốn tan ngôi nhà của vợ chồng “tôi”. Vợ chồng dìu nhau lên cây đa tránh lũ, nhưng cành đa gãy, đứa con trai sơ sinh tuột khỏi tay mẹ và rơi xuống dòng nước. Nhân vật “tôi” lao xuống cứu, vớt được một đứa bé đưa lên rồi tiếp tục lặn cứu vợ nhưng không thành. Bi kịch ập đến khi tỉnh dậy trên ca nô cứu nạn, “tôi” phát hiện đứa trẻ được cứu lên là một bé gái, không phải đứa con trai mà vợ vừa sinh. Vợ mất, con ruột cũng vĩnh viễn ra đi cùng dòng nước. Nhưng người cha đau khổ ấy đã chọn nhận đứa bé làm con và giữ kín bí mật suốt đời để cho đứa trẻ một gia đình, một người cha.

Thành công nổi bật của tác phẩm trước hết là ở nghệ thuật xây dựng nhân vật và lựa chọn ngôi kể. Bảo Ninh đã chọn ngôi kể thứ nhất – nhân vật “tôi” tự kể câu chuyện đời mình. Lựa chọn ngôi kể này khiến câu chuyện trở nên chân thực, ám ảnh; mọi đau đớn, mất mát, dằn vặt đều được bộc lộ trực tiếp qua chính giọng kể của người trong cuộc. Đặc biệt, nhân vật “tôi”người duy nhất biết bí mật về đứa trẻ. Nhờ ngôi kể này, người đọc mới có thể tiếp cận được bí ẩn ấy – điều mà ngay cả con gái nuôi và mọi người trong làng đều không hay biết. Qua đó, chiều sâu nhân văn của tác phẩm được khắc hoạ một cách tinh tế.

Một thành công khác là nghệ thuật xây dựng chi tiết tiêu biểu. Chi tiết đắt giá nhất chính là khoảnh khắc nhân vật “tôi” “chết lặng” khi nhìn chị phụ nữ thay tã cho đứa bé. Trong nháy mắt ấy, “tôi” nhận ra đứa trẻ là một bé gái – không phải đứa con trai mà vợ vừa sinh ra. Chi tiết tưởng đơn giản nhưng mở ra cả một bi kịch: vừa mất vợ, vừa mất đứa con ruột; vừa nhận thêm trách nhiệm nuôi nấng một đứa trẻ vô danh. Cũng từ khoảnh khắc đó, tiếng kêu “Con tôi!”“tôi” thốt lên hai lần trở thành lời xác nhận đầy yêu thương: từ giờ phút này, đứa bé chính là con của mình. Một chi tiết nhỏ mà chứa đựng cả một tấm lòng cao cả.

Bên cạnh đó, tác phẩm còn nổi bật ở ngôn ngữ tự sự kết hợp biểu cảm tinh tế. Bảo Ninh sử dụng những câu văn ngắn, dồn dập trong những đoạn miêu tả thiên tai, tạo cảm giác khốc liệt, ngột ngạt. Đến những đoạn bộc lộ tâm trạng, ngôn ngữ lại trở nên trầm lắng, day dứt: “Vợ tôi, con tôi và người đàn bà vô danh nhìn tôi từ đáy nước. Thời gian, năm tháng cứ trôi, dòng sông và lịch sử, tất cả đều đổi thay nhưng mà niềm đau của đời tôi thì khôn nguôi bởi ấy là một niềm đau không thể nói nên lời.” Câu kết của truyện gợi lên cảm giác buồn man mác, lắng đọng, để lại dư âm sâu xa trong lòng người đọc.

Nhan đề “Bí ẩn của làn nước” cũng là một dụng ý nghệ thuật đặc sắc. “Làn nước” là dòng sông quê hương – nơi đã diễn ra biến cố đêm Rằm tháng Bảy, cũng là nơi cuốn đi vợ và con trai của “tôi”. “Bí ẩn của làn nước” chính là bí mật về thân phận đứa trẻ – chỉ có dòng sông và người cha biết. Nhan đề gợi sự ẩn giấu nỗi niềm, thể hiện sâu sắc chủ đề của tác phẩm: sự chịu đựng nỗi đau, hi sinh thầm lặng vì người khác.

Qua Bí ẩn của làn nước, Bảo Ninh đã gửi đến người đọc một thông điệp nhân văn sâu sắc: trong cuộc đời, có những nỗi đau con người phải gánh chịu một mình; có những hi sinh thầm lặng không cần ai biết đến. Lòng vị tha và đức hi sinh của người cha trong truyện chính là vẻ đẹp lớn nhất của con người – vẻ đẹp khiến cuộc đời dù nhiều mất mát vẫn luôn ấm áp tình người. Đó cũng là lí do tác phẩm tuy nhỏ về dung lượng nhưng vẫn có sức lay động mạnh mẽ trái tim người đọc qua nhiều thế hệ.

3. Nói và nghe

Chọn một vấn đề đáng quan tâm trong đời sống của lứa tuổi học sinh, lập dàn ý cho bài nói và tập trình bày.

Vấn đề lựa chọn: Áp lực học tập của học sinh hiện nay

a) Dàn ý

Mở đầu:

  • Chào hỏi, giới thiệu bản thân.
  • Giới thiệu vấn đề: áp lực học tập đang là một trong những vấn đề nóng của lứa tuổi học sinh hiện nay.

Triển khai:

Ý 1: Thực trạng áp lực học tập của học sinh hiện nay

  • Học sinh phải học nhiều môn, học cả ở trường lẫn các trung tâm, lớp học thêm.
  • Bài tập, kiểm tra, thi cử liên tục, đặc biệt là học sinh cuối cấp.
  • Theo nhiều khảo sát, tỉ lệ học sinh cảm thấy căng thẳng, mệt mỏi vì việc học ngày càng cao.

Ý 2: Nguyên nhân của áp lực học tập

  • Từ phía gia đình: kì vọng quá lớn của cha mẹ, áp đặt mục tiêu mà chưa cân nhắc khả năng và sở thích của con.
  • Từ phía nhà trường: chương trình học nặng, áp lực thi cử, xếp loại, thành tích.
  • Từ phía xã hội: sự so sánh, ganh đua, định kiến về thành công.
  • Từ chính bản thân học sinh: chưa biết cách quản lí thời gian, dễ tự tạo áp lực cho mình.

Ý 3: Hậu quả của áp lực học tập

  • Sức khoẻ thể chất: mất ngủ, ăn không ngon, suy nhược cơ thể.
  • Sức khoẻ tinh thần: lo âu, trầm cảm, mất hứng thú với việc học.
  • Hiệu quả học tập giảm: học nhiều nhưng tiếp thu kém, dễ chán nản, bỏ học.
  • Mối quan hệ gia đình căng thẳng, học sinh dễ xa cách cha mẹ.

Ý 4: Giải pháp giảm bớt áp lực học tập

  • Bản thân học sinh: xây dựng kế hoạch học tập hợp lí, biết nghỉ ngơi, chia sẻ với gia đình – bạn bè khi gặp khó khăn.
  • Gia đình: lắng nghe, đồng hành cùng con; đặt kì vọng phù hợp; quan tâm đến cảm xúc của con.
  • Nhà trường: giảm tải chương trình, tổ chức các hoạt động giải toả căng thẳng; quan tâm đến sức khoẻ tinh thần của học sinh.
  • Xã hội: thay đổi quan niệm về thành công; tạo môi trường lành mạnh cho học sinh phát triển toàn diện.

Kết thúc:

  • Khẳng định lại tầm quan trọng của việc giảm áp lực học tập.
  • Kêu gọi sự chung tay của gia đình, nhà trường và xã hội.

b) Bài nói tham khảo

Kính chào thầy cô và các bạn. Em là [tên], học sinh lớp [lớp]. Hôm nay, em xin được trình bày suy nghĩ của mình về một vấn đề rất gần gũi với chúng ta – đó là áp lực học tập của học sinh hiện nay.

Có lẽ không cần nói nhiều, mỗi chúng ta đều có thể cảm nhận được áp lực mà mình đang gánh chịu: học ở trường, học thêm, làm bài tập, ôn thi… Vòng quay học tập gần như chiếm trọn thời gian một ngày của học sinh. Nhiều bạn thức khuya dậy sớm, không có thời gian nghỉ ngơi, vui chơi. Theo các khảo sát gần đây, tỉ lệ học sinh cảm thấy căng thẳng, mệt mỏi vì việc học đang ở mức báo động.

Vậy đâu là nguyên nhân? Trước hết, đó là kì vọng quá lớn từ phía gia đình: cha mẹ mong con học giỏi, thi đỗ trường tốt, đôi khi đặt ra mục tiêu mà chưa cân nhắc khả năng thực tế của con. Thứ hai là áp lực từ nhà trường: chương trình học nặng, thi cử liên tục, xếp loại, thành tích. Thứ ba là áp lực xã hội: sự so sánh giữa các học sinh, các trường, các phụ huynh tạo nên một cuộc đua không hồi kết. Và cuối cùng, đôi khi chính chúng ta cũng tự tạo áp lực cho mình khi chưa biết cách quản lí thời gian và đặt mục tiêu hợp lí.

Hậu quả của những áp lực ấy là rất nghiêm trọng. Về sức khoẻ thể chất, nhiều bạn mất ngủ, ăn không ngon, suy nhược cơ thể. Về tinh thần, không ít bạn rơi vào lo âu, thậm chí trầm cảm. Hiệu quả học tập cũng vì thế mà giảm sút: học nhiều nhưng tiếp thu kém, dễ chán nản. Đáng buồn hơn, áp lực còn khiến nhiều bạn xa cách cha mẹ, đánh mất niềm vui tuổi học trò.

Vậy chúng ta phải làm gì để giảm bớt áp lực ấy? Theo em, cần có sự chung tay từ nhiều phía. Về phía bản thân, mỗi học sinh cần biết xây dựng kế hoạch học tập hợp lí, dành thời gian nghỉ ngơi và biết chia sẻ khi gặp khó khăn. Về phía gia đình, cha mẹ cần lắng nghe và đồng hành cùng con, đặt kì vọng phù hợp với khả năng. Về phía nhà trường, cần giảm tải chương trình, tổ chức nhiều hoạt động giúp học sinh giải toả căng thẳng. Và xã hội cần thay đổi quan niệm về thành công – không chỉ đo bằng điểm số hay danh hiệu.

Em tin rằng nếu chúng ta cùng nhận thức và hành động, áp lực học tập sẽ dần được giảm bớt. Mỗi học sinh sẽ có cơ hội phát triển toàn diện cả về trí tuệ, thể chất lẫn tinh thần – đúng như mục tiêu giáo dục mà chúng ta đang hướng tới.

Em xin kết thúc bài nói tại đây. Cảm ơn thầy cô và các bạn đã lắng nghe!

Thầy Nguyễn Thái Nhật Luật

Thầy Nguyễn Thái Nhật Luật

(Người kiểm duyệt, ra đề)

Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Ngữ Văn THCS

Trình độ: Cử nhân Sư phạm Ngữ Văn, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ B1

Kinh nghiệm: 8+ năm kinh nghiệm tại THCS Hồng Bàng