Soạn bài: Chuyện người con gái Nam Xương (trang 10) Ngữ Văn 9 tập 1

Mục lục [Ẩn]

Chọn đến phần học sinh cần nhanh chóng thông qua mục lục bằng cách click đến phần đó

I. Tìm hiểu chung

1. Tác giả

Nguyễn Dữ (chưa rõ năm sinh, năm mất), quê ở Hải Dương (nay thuộc thành phố Hải Phòng), sống vào thế kỉ XVI (thời Lê – Mạc). Ông từng đỗ cử nhân, làm quan một thời gian ngắn rồi về quê ẩn dật. Nguyễn Dữ có đóng góp quan trọng đối với thể loại truyện truyền kì trong văn học trung đại Việt Nam.

2. Tác phẩm

  • Xuất xứ: Chuyện người con gái Nam Xương (Nam Xương nữ tử truyện) là truyện thứ 16 trong tổng số 20 truyện của tập Truyền kì mạn lục – tác phẩm tiêu biểu nhất của Nguyễn Dữ, viết bằng chữ Hán, được đánh giá là “thiên cổ kì bút”.
  • Thể loại: truyện truyền kì.
  • Phương thức biểu đạt chính: tự sự.
  • Ngôi kể: ngôi thứ ba.
  • Bố cục (3 phần):
    • Phần 1 (từ đầu đến “lo liệu như đối với cha mẹ đẻ mình”): giới thiệu nhân vật Vũ Nương, Trương Sinh và tình cảnh gia đình.
    • Phần 2 (tiếp đến “Đây quả là vật dùng mà vợ tôi mang lúc ra đi”): gia đình tan vỡ – nỗi oan và cái chết của Vũ Nương.
    • Phần 3 (còn lại): Vũ Nương trở về trên sông Hoàng Giang.

II. Trước khi đọc

Câu 1: Em biết gì về vị thế của người phụ nữ Việt Nam trong xã hội phong kiến?

Câu hỏi mở, em có thể chọn một trong các cách sau.

  • Cách 1: Trong xã hội phong kiến, người phụ nữ có vị thế rất thấp kém. Tư tưởng “trọng nam khinh nữ” phổ biến trong xã hội khiến họ không có quyền quyết định cuộc đời mình. Họ phải tuân theo “tam tòng, tứ đức”, sống phụ thuộc vào cha, chồng, con và thường chịu nhiều thiệt thòi, bất hạnh.
  • Cách 2: Người phụ nữ trong xã hội phong kiến không được coi trọng, không được học hành, không có tiếng nói trong gia đình và xã hội. Dù tài sắc vẹn toàn, họ vẫn dễ bị rẻ rúng, hắt hủi, không được tự do lựa chọn hạnh phúc cho mình.

Câu 2: Em có ấn tượng sâu sắc với tác phẩm nào viết về người phụ nữ? Hãy chia sẻ ấn tượng đó của em.

Câu hỏi mở, em có thể chọn một trong các cách sau.

  • Cách 1: Em ấn tượng sâu sắc với bài thơ Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương. Qua hình ảnh chiếc bánh trôi, tác giả đã ca ngợi vẻ đẹp trong trắng, thuỷ chung của người phụ nữ, đồng thời bày tỏ niềm thương cảm trước số phận chìm nổi, lênh đênh của họ trong xã hội xưa.
  • Cách 2: Em ấn tượng với hình tượng người chinh phụ trong Chinh phụ ngâm (Đặng Trần Côn). Đó là người phụ nữ đẹp người, đẹp nết, thuỷ chung son sắt nhưng phải sống cô đơn, mòn mỏi vì chiến tranh chia cắt vợ chồng.
  • Cách 3: Em rất xúc động khi đọc Truyện Kiều của Nguyễn Du. Thuý Kiều là người con gái tài sắc vẹn toàn nhưng phải trải qua mười lăm năm lưu lạc, đầy đắng cay tủi nhục – tiêu biểu cho số phận bi kịch của người phụ nữ trong xã hội phong kiến.

III. Trong khi đọc

1. Theo dõi: Những chi tiết giới thiệu nhân vật Vũ Thị Thiết và Trương Sinh

  • Vũ Thị Thiết: người con gái quê ở Nam Xương, “tính đã thuỳ mị, nết na, lại thêm tư dung tốt đẹp”.
  • Trương Sinh: con nhà hào phú (giàu có, có thế lực) nhưng không có học, có tính đa nghi, đối với vợ phòng ngừa quá sức.

→ Hai nhân vật được giới thiệu ngắn gọn nhưng đủ để dự báo những sóng gió trong cuộc sống gia đình sau này.

2. Dự đoán: Theo em, kết cục của cuộc hôn nhân giữa Trương Sinh và Vũ Nương sẽ như thế nào?

Câu hỏi mở, em có thể chọn một trong các cách sau.

  • Cách 1: Em dự đoán cuộc hôn nhân sẽ không hạnh phúc, dễ tan vỡ. Vì tính cách hai người trái ngược: Vũ Nương hiền thục, nết na còn Trương Sinh đa nghi, ít học. Khi xa nhau lâu ngày vì chiến tranh, sự đa nghi của Trương Sinh dễ dẫn đến hiểu lầm.
  • Cách 2: Em dự đoán cuộc hôn nhân sẽ kết thúc trong bi kịch. Sự chênh lệch về tính cách và tri thức, cùng với việc Trương Sinh phải đi lính xa nhà, sẽ là mầm mống tan vỡ hạnh phúc gia đình.

3. Theo dõi: Trương Sinh có thái độ và hành động như thế nào sau khi nghe những lời nói của con?

  • Đinh ninh là vợ hư, mối nghi ngờ ngày càng sâu, không có gì gỡ ra được.
  • Về đến nhà, la um lên cho hả giận.
  • Khi vợ giãi bày, chàng vẫn không tin, giấu không kể lời con nói.
  • Lấy chuyện bóng giómắng nhiếcđánh đuổi vợ đi.
  • Họ hàng làng xóm bênh vực, biện bạch cũng không nghe.

→ Trương Sinh hiện lên là người đàn ông hồ đồ, vũ phu, độc đoán, gia trưởng.

4. Đối chiếu: Kết cục cuộc hôn nhân của Vũ Nương và Trương Sinh có đúng như dự đoán của em không?

Em đã đoán đúng. Cuộc hôn nhân kết thúc trong bi kịch: Vũ Nương bị chồng nghi oan, nhục nhã đến mức phải gieo mình xuống sông Hoàng Giang tự vẫn; gia đình tan vỡ, đứa con thơ mất mẹ.

5. Suy luận: Câu chuyện sẽ như thế nào nếu không xuất hiện nhân vật Phan Lang?

Nếu không có nhân vật Phan Lang, câu chuyện sẽ kết thúc ở cái chết oan khuất của Vũ Nương. Nhờ Phan Lang, người đọc mới biết Vũ Nương được Linh Phi cứu sống dưới thuỷ cung, mới có cuộc gặp gỡ kì lạ và lời nhắn của nàng gửi về cho Trương Sinh. Phan Lang chính là chiếc cầu nối giữa hai cõi (trần gian và thuỷ cung), thúc đẩy câu chuyện phát triển, dẫn đến cảnh giải oan đầy màu sắc kì ảo ở cuối truyện.

6. Theo dõi: Điều gì khiến Vũ Nương muốn tìm về gặp chồng?

  • Lời khuyên của Phan Lang về cảnh nhà cửa, phần mộ tiên nhân đã hoang vắng, “cây cối thành rừng”, “có gai rợp mắt”.
  • Nỗi nhớ quê hương, nhớ gia đình, nhớ chồng con như “ngựa Hồ gầm gió bắc, chim Việt đậu cành nam”.
  • Khát vọng được giải oan, được minh oan trước chồng và mọi người.

IV. Sau khi đọc – Trả lời câu hỏi

Câu 1: Trình bày cốt truyện và nêu bố cục của tác phẩm.

a) Cốt truyện:

Vũ Thị Thiết là người con gái đẹp người, đẹp nết, kết hôn với Trương Sinh – con nhà giàu nhưng ít học, hay ghen. Trương Sinh phải đi lính, để mẹ già và vợ trẻ ở nhà. Vũ Nương sinh con, một mình chăm sóc mẹ chồng, lo ma chay chu đáo khi mẹ mất. Khi Trương Sinh trở về, vì câu nói ngây thơ của bé Đản về “người đàn ông đêm nào cũng đến”, chàng nghi oan vợ thất tiết, mắng nhiếc, đánh đuổi nàng. Vũ Nương không thể minh oan, gieo mình xuống sông Hoàng Giang tự vẫn. Sau đó, Trương Sinh nhận ra “người đàn ông” trong lời con chính là chiếc bóng của mình trên vách. Dưới thuỷ cung, Vũ Nương được Linh Phi cứu sống và gặp Phan Lang – người cùng làng. Theo lời nhắn của nàng, Trương Sinh lập đàn giải oan trên bến Hoàng Giang. Vũ Nương hiện về giữa dòng sông trong cảnh kì ảo, nói lời từ biệt rồi biến mất.

b) Bố cục: 3 phần (đã nêu ở mục I.2).

Câu 2: Trong phần đầu tác phẩm, Nguyễn Dữ đã làm nổi bật những đặc điểm gì ở nhân vật Vũ Nương và Trương Sinh? Lời người kể chuyện có vai trò như thế nào trong việc khắc hoạ nhân vật?

a) Đặc điểm nhân vật:

  • Vũ Nương: thuỳ mị, nết na, tư dung tốt đẹp; biết giữ gìn khuôn phép, không để vợ chồng bất hoà; lúc tiễn chồng ra trận chỉ mong “hai chữ bình yên”, không màng vinh hoa; là người con dâu hiếu thảo, hết lòng thuốc thang khi mẹ chồng ốm, lo ma chay chu đáo “như đối với cha mẹ đẻ mình”. → Một người phụ nữ đẹp người, đẹp nết, đảm đang, thuỷ chung, hiếu nghĩa.
  • Trương Sinh: con nhà hào phú nhưng không có học, có tính đa nghi, đối với vợ phòng ngừa quá sức. → Một người ít học, đa nghi, gia trưởng – mầm mống của bi kịch sau này.

b) Vai trò của lời người kể chuyện:

  • Giới thiệu thời gian, không gian, lai lịch và tính cách nhân vật một cách ngắn gọn, rõ ràng.
  • Kể lại sự việc theo trình tự, làm câu chuyện mạch lạc, dễ theo dõi.
  • Thể hiện kín đáo thái độ của tác giả: trân trọng, cảm thông với Vũ Nương; ngầm phê phán tính cách Trương Sinh.

Câu 3: Phân tích lời than của nhân vật Vũ Nương trước khi gieo mình xuống sông.

a) Nỗi đau đớn của nhân vật:

  • Đau đớn vì số phận bạc bẽo: “Kẻ bạc mệnh này duyên phận hẩm hiu, chồng con rẫy bỏ, điều đâu bay buộc, tiếng chịu nhuốc nhơ” → tự nhận thân phận hẩm hiu, bị chồng ruồng rẫy, mang tiếng oan nhục nhã.
  • Tuyệt vọng cùng cực: không còn cách nào minh oan, phải mượn dòng nước Hoàng Giang để chứng minh sự trong sạch.
  • Lời thề độc: nếu đoan trang giữ tiết thì xin được làm ngọc Mị Nương, cỏ Ngu mĩ; nếu “lòng chim dạ cá, lừa chồng dối con” thì xin làm mồi cho cá tôm, cơm cho diều quạ → khẳng định mạnh mẽ phẩm tiết trong sạch của mình.

→ Lời than thể hiện nỗi đau xé lòng của một người phụ nữ bị dồn vào đường cùng, đồng thời cho thấy bản lĩnh và lòng tự trọng cao đẹp của Vũ Nương.

b) Đặc điểm ngôn ngữ nhân vật trong truyện truyền kì:

  • Sử dụng nhiều điển tích, điển cố (ngọc Mị Nương, cỏ Ngu mĩ).
  • Dùng nhiều từ Hán Việt (bạc mệnh, đoan trang, trinh bạch, chứng giám…).
  • Lời nói trang trọng, đăng đối, giàu hình ảnh, mang tính ước lệ.

→ Ngôn ngữ vừa hàm súc, uyên bác, trang nhã, vừa gợi liên tưởng phong phú – đặc trưng của truyện truyền kì.

Câu 4: Cho biết những nguyên nhân gây ra bi kịch của Vũ Nương. Nguyên nhân nào là chủ yếu?

Các nguyên nhân:

  1. Câu nói ngây thơ của bé Đản về “người đàn ông đêm nào cũng đến” → nguyên nhân trực tiếp.
  2. Hành động vô tình của Vũ Nương: chỉ bóng mình trên vách bảo với con đó là cha.
  3. Cuộc chiến tranh phong kiến khiến vợ chồng xa cách, là cái cớ làm nảy sinh hiểu lầm.
  4. Chế độ nam quyền trong xã hội phong kiến: người phụ nữ không có quyền tự bảo vệ, mọi tiếng nói của họ đều bị xem nhẹ.
  5. Tính đa nghi, ghen tuông thái quá và sự hồ đồ, gia trưởng của Trương Sinh.

Nguyên nhân chủ yếu: Tính đa nghi, ghen tuông và sự hồ đồ, gia trưởng của Trương Sinh. Vì nếu Trương Sinh không có tính cách đó, dù bé Đản có nói gì, dù chiến tranh có chia cắt bao lâu, hạnh phúc gia đình vẫn được giữ vững. Ngược lại, với tính cách đa nghi và gia trưởng của Trương Sinh, hạnh phúc gia đình khó bảo toàn khi gặp bất cứ tình huống bất thường nào.

Câu 5: Trong tác phẩm, nhân vật Phan Lang được khắc hoạ ở những không gian, thời gian nào? Nhân vật này có vai trò gì trong truyện?

a) Không gian, thời gian khắc hoạ nhân vật Phan Lang:

  • Không gian:
    • Cõi trần: ở bến đò Hoàng Giang (làm đầu mục), trên biển khi đi lánh nạn.
    • Cõi kì ảo: động rùa của Linh Phi – cung nước nguy nga, lộng lẫy.
  • Thời gian:
    • Thời gian thực: cuối đời Khai Đại nhà Hồ, khi quân Minh sang xâm lược.
    • Thời gian kì ảo: khi ở dưới cung nước của Linh Phi.

→ Sự kết hợp giữa không gian, thời gian thực và kì ảo là đặc trưng tiêu biểu của truyện truyền kì.

b) Vai trò của Phan Lang:

  • cầu nối giữa hai cõi (trần gian và thuỷ cung), giúp Vũ Nương gửi lời nhắn về cho Trương Sinh.
  • Thúc đẩy cốt truyện phát triển, dẫn đến cảnh giải oan ở cuối truyện.
  • Sự xuất hiện của Phan Lang tạo nên yếu tố kì ảo đặc sắc, làm tăng sức hấp dẫn cho câu chuyện.

Câu 6: Hình ảnh Vũ Nương trở về khi Trương Sinh lập đàn giải oan trên bến Hoàng Giang được tác giả miêu tả qua những chi tiết nào? Đoạn kết có màu sắc kì ảo này có tác dụng gì trong việc thể hiện chủ đề của tác phẩm?

a) Những chi tiết miêu tả hình ảnh Vũ Nương trở về:

  • Vũ Nương “ngồi trên một chiếc kiệu hoa đứng ở giữa dòng”.
  • “Theo sau có đến năm mươi chiếc xe cờ tán, võng lọng, rực rỡ đầy sông, lúc ẩn, lúc hiện”.
  • Nàng nói vọng vào lời từ biệt: “Thiếp cảm ơn đức của Linh Phi, đã thề sống chết cũng không bỏ. Đa tạ tình chàng, thiếp chẳng thể trở về nhân gian được nữa.”
  • “Bóng nàng loang loáng mờ nhạt dần mà biến đi mất.”

b) Tác dụng của đoạn kết kì ảo:

  • Hoàn tất hành trình giải oan cho Vũ Nương: nàng được trở về trong cảnh uy nghi, lộng lẫy, được minh oan trước mọi người.
  • Thể hiện ước mơ của nhân dân về sự công bằng: người tốt dù phải chết oan cũng sẽ được đền đáp.
  • Tô đậm bi kịch của nhân vật: dù được giải oan, Vũ Nương vẫn không thể trở về với chồng con, hạnh phúc gia đình đã tan vỡ vĩnh viễn → khẳng định cõi trần đầy bất công, ngang trái mới chính là nơi đày ải thân phận người phụ nữ.
  • Tăng sức hấp dẫn cho tác phẩm, thể hiện đặc trưng nghệ thuật của truyện truyền kì.

Câu 7: Nêu chủ đề của tác phẩm và trình bày suy nghĩ của em về chủ đề đó.

a) Chủ đề: Chuyện người con gái Nam Xương thể hiện bi kịch tan vỡ hạnh phúc gia đình của người phụ nữ trong xã hội phong kiến; qua đó, tác giả phê phán xã hội phong kiến nam quyền bất công, đồng thời bày tỏ niềm thương cảm sâu sắc đối với số phận bất hạnh và ngợi ca những phẩm chất đẹp đẽ của người phụ nữ.

b) Suy nghĩ về chủ đề:

Tác phẩm để lại trong em nỗi xót xa, thương cảm sâu sắc trước số phận bi kịch của Vũ Nương – một người phụ nữ đẹp người, đẹp nết, thuỷ chung, hiếu nghĩa nhưng phải chết oan. Qua câu chuyện, em hiểu rằng trong xã hội phong kiến, người phụ nữ dù tài đức đến đâu cũng dễ trở thành nạn nhân của chế độ nam quyền, của những hủ tục bất công. Em càng thêm trân trọng cuộc sống bình đẳng, hạnh phúc mà mình đang có, đồng thời thấy cần phải biết yêu thương, tôn trọng và bảo vệ người phụ nữ trong gia đình cũng như ngoài xã hội.

V. Viết kết nối với đọc

Viết đoạn văn (khoảng 7 – 9 câu) trình bày suy nghĩ của em về chi tiết “cái bóng” trong truyện.

Đoạn văn tham khảo 1:

Trong Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ, chi tiết “cái bóng” là một sáng tạo nghệ thuật đặc sắc, để lại trong em ấn tượng sâu sắc nhất. Trong những đêm dài cô đơn xa chồng, Vũ Nương thường chỉ bóng mình trên vách rồi nói với con đó là cha Đản, vừa để dỗ con, vừa để vơi đi nỗi nhớ chồng. Chi tiết ấy cho thấy nàng là người vợ thuỷ chung, người mẹ giàu tình yêu thương, luôn nhớ và mong chờ chồng. Nhưng cũng chính “cái bóng” ấy lại trở thành nguyên nhân đẩy nàng vào bi kịch oan khuất khi Trương Sinh trở về. Vì hồ đồ, đa nghi, chàng đã tin lời con thơ mà nghi oan vợ, mắng nhiếc, đánh đuổi nàng đến mức phải gieo mình xuống sông tự vẫn. Đến khi nhìn bóng mình trên vách qua lời chỉ của bé Đản, Trương Sinh mới thấu nỗi oan của vợ thì đã quá muộn. “Cái bóng” vừa là chi tiết thắt nút, vừa là chi tiết mở nút câu chuyện, làm nên kịch tính cho tác phẩm. Qua đó, Nguyễn Dữ kín đáo phê phán thói ghen tuông, hồ đồ của người chồng và xót xa cho thân phận mong manh của người phụ nữ trong xã hội phong kiến.

Đoạn văn tham khảo 2:

Chi tiết “cái bóng” trong Chuyện người con gái Nam Xương (Nguyễn Dữ) là một chi tiết nghệ thuật giàu ý nghĩa, để lại nhiều suy ngẫm trong lòng người đọc. “Cái bóng” xuất hiện hai lần và đều giữ vai trò then chốt trong diễn biến câu chuyện. Lần thứ nhất, đó là cái bóng Vũ Nương chỉ trên vách để dỗ con, nói rằng đó là cha Đản – một biểu hiện cảm động của tình yêu thương chồng con và nỗi cô đơn của người vợ trẻ xa chồng. Lần thứ hai, cũng chính cái bóng ấy hiện lên trong đêm khuya khi Trương Sinh ngồi buồn dưới ngọn đèn, để rồi chàng đau đớn nhận ra nỗi oan tày trời mình đã gây cho vợ. Như vậy, “cái bóng” vừa là nguyên cớ đẩy Vũ Nương đến cái chết, vừa là chi tiết hoá giải mối nghi ngờ của Trương Sinh. Qua chi tiết này, tác giả đã khắc hoạ sâu sắc bi kịch của người phụ nữ trong xã hội phong kiến: hạnh phúc của họ mong manh như chiếc bóng, có thể tan vỡ chỉ vì một hiểu lầm nhỏ. Em thấy thương xót cho Vũ Nương và càng trân trọng hơn những giá trị của tình yêu thương, sự thấu hiểu và niềm tin trong cuộc sống gia đình.

Thầy Nguyễn Thái Nhật Luật

Thầy Nguyễn Thái Nhật Luật

(Người kiểm duyệt, ra đề)

Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Ngữ Văn THCS

Trình độ: Cử nhân Sư phạm Ngữ Văn, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ B1

Kinh nghiệm: 8+ năm kinh nghiệm tại THCS Hồng Bàng