Soạn bài: Ngày xưa (Vũ Cao) (trang 102) Ngữ Văn 9 tập 1

Mục lục [Ẩn]

Chọn đến phần học sinh cần nhanh chóng thông qua mục lục bằng cách click đến phần đó

I. Tìm hiểu chung

1. Tác giả

Vũ Cao (1922 – 2007), quê ở Nam Định (nay thuộc tỉnh Ninh Bình), từng tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Thơ ông thường viết về đề tài kháng chiếnnhững tình cảm cách mạng; ngôn ngữ và hình ảnh thơ trẻ trung, tươi mới, giàu cảm xúc.

Tác phẩm tiêu biểu: Núi Đôi (thơ, 1956), Đèo Trúc (thơ, 1973), Từ một trận địa (truyện ngắn, 1973)…

2. Tác phẩm

  • Xuất xứ: Bài thơ in trong tập Thơ với tuổi thơ (NXB Kim Đồng, Hà Nội, 2001).
  • Thể thơ: lục bát.
  • Phương thức biểu đạt: biểu cảm kết hợp với tự sự.
  • Đề tài: sức sống của Truyện Kiều (Nguyễn Du) trong đời sống tinh thần của người Việt qua hình ảnh người bà ru cháu bằng những câu Kiều.
  • Nhân vật trong bài thơ: ba thế hệ – (người ru, được người kể gọi là “mẹ”), người kể chuyện (người con của bà, là cha/mẹ của em bé) và em bé (cháu của bà).

II. Sau khi đọc – Trả lời câu hỏi

Câu 1: Bà ru cháu bằng những câu Kiều, mặc dù cháu còn rất nhỏ, chưa thể hiểu được. Điều đó gợi cho em suy nghĩ gì?

Câu hỏi mở, em có thể chọn một trong các cách trả lời sau.

  • Cách 1: Việc bà ru cháu bằng câu Kiều dù cháu còn rất nhỏ, chưa thể hiểu được cho thấy: bà ru cháu không phải vì nghĩ cháu hiểu, mà chỉ là để đưa cháu vào giấc ngủ. Ngoài ra, đó còn là cách bà thưởng thức Truyện Kiều, đồng cảm với những điều được nói trong tác phẩm và giãi bày tâm trạng của mình. Điều đó cho thấy Truyện Kiều đã ngấm sâu vào đời sống tinh thần của bà như một phần máu thịt.
  • Cách 2: Điều đó gợi cho em suy nghĩ về sức sống bền lâu của Truyện Kiều trong đời sống nhân dân Việt Nam. Bà ru cháu bằng câu Kiều như một thói quen, một tình cảm tự nhiên, qua đó Truyện Kiều được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Dù cháu chưa hiểu, nhưng giai điệu êm đềm của những câu Kiều đã đi vào tâm hồn cháu một cách vô thức, nuôi dưỡng tâm hồn cháu từ thuở ấu thơ.

Câu 2: Bài thơ cho thấy Truyện Kiều đã được tiếp nhận theo những cách nào?

Bài thơ cho thấy Truyện Kiều được tiếp nhận theo ba cách khác nhau, tương ứng với ba thế hệ:

  • Đối với người bà: Truyện Kiều khơi gợi niềm đồng cảm, xót thương sâu sắc – “Nghĩ mà thương phận cô Kiều ngày xưa…”. Bà tiếp nhận tác phẩm bằng cả tâm hồn và trải nghiệm sống; với bà, Truyện Kiều còn là phương tiện để ru cháu vào giấc ngủ.
  • Đối với người con (người kể chuyện): Truyện Kiều là tác phẩm vô cùng sâu sắc, có khoảng cách rất xa với một đứa trẻ về cả thời gian lẫn nội dung, nên trẻ con không thể hiểu được (“Tôi rằng: cháu hiểu làm sao / Những câu thơ tự thuở nào, mẹ ơi!”).
  • Đối với em bé: Qua lời ru của bà, em bé tiếp nhận Truyện Kiều một cách vô thức – qua giai điệu êm đềm của câu thơ, đưa em vào “ngon giấc ngủ thơ ngây chiều chiều”.

Câu 3: Bài thơ gợi cho em suy nghĩ gì về sức sống của Truyện Kiều trong lòng người dân Việt Nam?

Truyện Kiều đã đi vào đời sống của người dân Việt Nam thông qua nhiều hoạt động phong phú, trong đó có việc hát ru. Khi trở thành những câu hát ru, Truyện Kiều có một đời sống khác so với các tác phẩm văn học thông thường:

  • Nó vừa mang lại cho trẻ thơ những giai điệu êm đềm, đưa các em vào giấc ngủ.
  • Vừa giúp trẻ thẩm thấu ngôn từ một cách tự nhiên từ thuở ấu thơ.

Đặc biệt, hình ảnh người bà ru cháu bằng Truyện Kiều với tất cả niềm yêu thương và đồng cảm với thân phận nàng Kiều cho thấy tác phẩm của đại thi hào Nguyễn Du đã trở thành một phần máu thịt trong đời sống tinh thần của bà.

Việc Truyện Kiều được tiếp nhận từ thế hệ này qua thế hệ khác (từ bà đến con, từ con đến cháu) chứng tỏ sức sống trường tồn của tác phẩm trong lòng người dân Việt Nam.

Câu 4: Em có nhận xét gì về hình thức nghệ thuật của bài thơ (thể thơ, ngôn từ, hình ảnh, cách tổ chức, sắp xếp ý thơ,…)?

  • Thể thơ: lục bát – thể thơ truyền thống của dân tộc, giàu nhạc điệu, gần gũi với lời ru, ca dao, rất phù hợp để diễn tả không khí ấm áp của tình bà cháu và sự trao truyền văn hoá qua các thế hệ.
  • Ngôn từ: giản dị, mộc mạc, giàu cảm xúc; có sự đan xen giữa lời thơ của tác giả và những câu Kiều được trích nguyên văn.
  • Hình ảnh: bình dị, thân thuộc – hình ảnh bà ôm cháu ngồi ru chiều chiều, em bé “đôi má tròn đầy” ngon giấc, gợi nên một khung cảnh ấm áp, đậm chất Việt Nam.
  • Cách tổ chức, sắp xếp ý thơ: Đặc sắc ở chỗ tác giả đã đan xen khéo léo giữa:
    • Những câu thơ “kể”, “dẫn dắt” của người con (người kể chuyện).
    • Những câu trích nguyên vẹn từ Truyện Kiều (đặt trong dấu ngoặc kép): “Mây Tần khoá kín song the / Bụi hồng lẽo đẽo đi về chiêm bao…”, “Mai sau dù có bao giờ / Đốt lò hương ấy, so tơ phím này…”.

→ Cách tổ chức ấy giúp bài thơ vừa có chất tự sự nhẹ nhàng, vừa có chiều sâu trữ tình, đồng thời làm nổi bật sức sống của Truyện Kiều trong đời sống dân gian.

Thầy Nguyễn Thái Nhật Luật

Thầy Nguyễn Thái Nhật Luật

(Người kiểm duyệt, ra đề)

Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Ngữ Văn THCS

Trình độ: Cử nhân Sư phạm Ngữ Văn, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ B1

Kinh nghiệm: 8+ năm kinh nghiệm tại THCS Hồng Bàng