Soạn bài: Nỗi niềm chinh phụ (trang 41) Ngữ Văn 9 tập 1

Mục lục [Ẩn]

Chọn đến phần học sinh cần nhanh chóng thông qua mục lục bằng cách click đến phần đó

I. Tìm hiểu chung

1. Tác giả và dịch giả

a) Tác giả Đặng Trần Côn:

  • Sống vào khoảng đầu thế kỉ XVIII, quê ở làng Nhân Mục (còn gọi là làng Mọc), nay thuộc Hà Nội.
  • Ông đỗ Hương cống, làm quan tới chức Ngự sử đài chiếu khám.
  • Sáng tác của ông thường chú trọng thể hiện những tình cảm riêng tư, những nỗi niềm trắc ẩn của con người.

b) Dịch giả Đoàn Thị Điểm:

  • (1705 – 1748), hiệu là Hồng Hà nữ sĩ, quê ở tỉnh Hưng Yên.
  • Nữ sĩ sáng tác văn thơ bằng cả chữ Hán và chữ Nôm.
  • Bản dịch Chinh phụ ngâm nổi tiếng hiện đang lưu hành được nhiều học giả khẳng định là của bà.

2. Tác phẩm

  • Hoàn cảnh sáng tác: Chinh phụ ngâm được Đặng Trần Côn sáng tác trong khoảng năm 1740 – 1742 bằng chữ Hán, giãi bày tâm sự của một người vợ có chồng ra trận.
  • Thể loại: ngâm khúc (khúc ngâm) – thường viết theo thể song thất lục bát, thể hiện những nỗi niềm sầu muộn, ai oán, xót thương.
  • Bản dịch: bản dịch tiếng Việt gồm 408 câu thơ song thất lục bát, được nhiều học giả khẳng định là của Đoàn Thị Điểm.
  • Vị trí đoạn trích: Nỗi niềm chinh phụ gồm 24 câu (từ câu 41 đến câu 64), thể hiện những tình cảm đầy lưu luyến của người chinh phụ khi phải xa cách chồng.
  • Bố cục (2 phần):
    • Phần 1 (12 câu đầu – từ “Tiếng nhạc ngựa…” đến “ngẩn ngơ nỗi nhà”): nỗi niềm của người chinh phụ lúc vừa chia li chinh phu.
    • Phần 2 (12 câu cuối – từ “Chàng thì đi…” đến “ai sầu hơn ai?”): nỗi niềm của người chinh phụ khi một mình trở về nhà.

II. Trước khi đọc

Câu 1: Đầu thế kỉ XVIII, nhiều cuộc chiến đã xảy ra trên đất nước ta. Hãy nêu một cuộc chiến mà em biết.

Câu hỏi mở, em có thể chọn một trong các cách sau.

  • Cách 1: Trịnh – Nguyễn phân tranh – cuộc nội chiến phân chia lãnh thổ giữa chế độ “vua Lê chúa Trịnh” ở phía bắc sông Gianh (Đàng Ngoài) và chúa Nguyễn cai trị ở phía nam (Đàng Trong). Cuộc chiến mở đầu năm 1627 khi Trịnh Tráng đem quân đánh Nguyễn Phúc Nguyên và kéo dài hàng trăm năm.
  • Cách 2: Khởi nghĩa Nguyễn Hữu Cầu (1741 – 1751) – cuộc khởi nghĩa nông dân lớn xuất phát từ Đồ Sơn (Hải Phòng), di chuyển lên vùng Kinh Bắc, uy hiếp cả kinh thành Thăng Long.
  • Cách 3: Khởi nghĩa Hoàng Công Chất (1739 – 1769) trên địa bàn trấn Sơn Nam – cuộc khởi nghĩa nông dân kéo dài 30 năm chống lại chính quyền phong kiến.

Câu 2: Theo em, những cuộc tiễn đưa trong chiến tranh có gì khác biệt so với tiễn đưa trong hoàn cảnh bình thường của cuộc sống?

Câu hỏi mở, em có thể chọn một trong các cách sau.

  • Cách 1: Tiễn đưa trong hoàn cảnh bình thường thường mang nỗi buồn ly biệt tạm thời; hai người vẫn có thể liên lạc, gặp lại nhau. Còn tiễn đưa trong chiến tranh thì khác biệt sâu sắc: người ra đi đối mặt với hiểm nguy, có thể một đi không trở lại. Vì vậy, nỗi buồn lưu luyến đi kèm với nỗi đau xót, lo lắng, sợ hãi cho người thân.
  • Cách 2: Tiễn đưa thông thường là sự chia tay tạm thời với những hẹn ngày gặp lại. Còn tiễn đưa trong chiến tranh là tiễn đưa không hẹn ngày trở về – người ở lại phải sống trong nỗi nhớ thương dằng dặc, lo âu khôn nguôi cho người ra trận giữa lằn ranh sinh tử.

III. Trong khi đọc

1. Hình dung: Cảnh người chinh phụ tiễn biệt người chinh phu

  • Khung cảnh tiễn đưa diễn ra trong âm thanh hối hả: tiếng nhạc ngựa lẫn tiếng trống thúc giục.
  • Khoảnh khắc “giáp mặt rồi phút bỗng chia tay” – cuộc gặp gỡ ngắn ngủi, vội vã.
  • Người chinh phụ bịn rịn, lưu luyến nhìn theo bóng cờ bay, lòng đau xót “ngùi ngùi”.

→ Cảnh tiễn đưa diễn ra chóng vánh, vội vã, đầy đau đớn và lưu luyến.

2. Theo dõi: Các từ ngữ miêu tả cảm xúc của người chinh phụ

  • Ngùi ngùi (buồn rầu, xót xa).
  • Đoạn trường (đau đớn vô cùng, như đứt từng khúc ruột).
  • Ngẩn ngơ (thẫn thờ, bần thần).
  • Sầu (sầu muộn, buồn bã).

→ Các từ ngữ đều thể hiện nỗi buồn sầu, đau đớn, thẫn thờ của người chinh phụ.

3. Hình dung: Tâm trạng của người chinh phụ sau khi chia li người chinh phu

  • Thẫn thờ, ngẩn ngơ nhìn theo bóng chồng dần khuất.
  • Cô đơn, trống trải khi trở về căn buồng cũ vắng lặng.
  • Lo lắng, bất an cho chồng nơi “cõi xa mưa gió”.
  • Nhớ thương da diết, lòng và mắt cứ hướng về nơi xa, dù “cùng trông lại mà cùng chẳng thấy”.

IV. Sau khi đọc – Trả lời câu hỏi

Câu 1: Chỉ ra những đặc điểm của thể thơ song thất lục bát thể hiện trong đoạn trích. Thể thơ song thất lục bát có gì khác với thể thơ lục bát?

a) Đặc điểm thể thơ song thất lục bát trong đoạn trích:

  • Số tiếng và sự kết hợp: đan xen từng cặp câu 7 tiếng (song thất) với từng cặp câu 6 và 8 tiếng (lục bát); mở đầu bằng cặp song thất.
  • Vần: sử dụng cả vần lưng (yêu vận)vần chân (cước vận).
    • Ví dụ: trống – bỗng (vần lưng), tay – bay (vần chân), đường – trường (vần lưng).
  • Thanh điệu: tuân theo quy tắc bằng – trắc cố định ở một số vị trí trong câu thơ.
  • Nhịp: câu 7 tiếng ngắt nhịp lẻ trước chẵn sau (3/4 hoặc 3/2/2); câu 6 – 8 ngắt nhịp theo thể lục bát.

b) Khác biệt với thể thơ lục bát:

Tiêu chí Lục bát Song thất lục bát
Cấu trúc câu Chỉ có câu 6 – 8 Có thêm cặp câu 7 tiếng (song thất)
Cách gieo vần Chủ yếu vần lưng và vần chân ở câu lục bát Đa dạng hơn, có cả vần ở câu 7 tiếng
Âm hưởng Nhẹ nhàng, mềm mại Vừa da diết, trầm bổng (câu thất), vừa sâu lắng (câu lục bát)

Câu 2: Xác định bố cục của đoạn trích và nêu nội dung chính của từng phần.

Đoạn trích chia làm 2 phần:

  • Phần 1 (12 câu đầu – từ “Tiếng nhạc ngựa…” đến “ngẩn ngơ nỗi nhà”): Nỗi niềm của người chinh phụ lúc vừa chia li người chinh phu – cảnh tiễn đưa vội vã, nỗi lưu luyến và thẫn thờ ngóng theo.
  • Phần 2 (12 câu cuối – từ “Chàng thì đi…” đến “ai sầu hơn ai?”): Nỗi niềm của người chinh phụ khi một mình trở về nhà – nỗi cô đơn, sầu muộn, sự cách biệt ngàn trùng và nỗi nhớ thương da diết.

Câu 3: Đề xuất phương án ngắt nhịp bốn câu thơ sau và cho biết tác dụng của cách ngắt nhịp đó:

Chốn Hàm Kinh chàng còn ngoảnh lại,

Bến Tiêu Tương thiếp hãy trông sang.

Khói Tiêu Tương cách Hàm Dương,

Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng.

Phương án ngắt nhịp:

Chốn Hàm Kinh / chàng còn ngoảnh lại, (3/4) Bến Tiêu Tương / thiếp hãy trông sang. (3/4) Khói Tiêu Tương / cách Hàm Dương, (3/3) Cây Hàm Dương / cách Tiêu Tương mấy trùng. (3/5)

Tác dụng:

  • Tạo nhịp điệu đều đặn, dàn trải, tựa như những đợt sóng lòng dâng lên nối nhau.
  • Gợi nên nỗi buồn man mác, mênh mang trải dài theo không gian.
  • Nhấn mạnh sự cách trở ngàn trùng giữa hai con người mà lòng vẫn luôn hướng về nhau.

Câu 4: Chỉ ra và phân tích tác dụng của phép đối trong những câu thơ sau:

a. Chàng thì đi cõi xa mưa gió, Thiếp thì về buồng cũ chiếu chăn.

  • Phép đối: chàngthiếp, đivề, cõi xa mưa gióbuồng cũ chiếu chăn.
  • Tác dụng: Nhấn mạnh sự chia lìa, cách biệt giữa hai người. Một bên là “cõi xa mưa gió” gian khổ, hiểm nguy; một bên là “buồng cũ chiếu chăn” đơn chiếc, trống trải. Phép đối làm nổi bật nỗi lo lắng cho chồngsự cô đơn của chính mình trong người chinh phụ.

b. Tuôn màu mây biếc / trải ngần núi xanh.

  • Phép tiểu đối: tuôntrải, màu mây biếcngần núi xanh.
  • Tác dụng: Khắc hoạ thiên nhiên rộng lớn, mênh mông, trùng điệp, qua đó nhấn mạnh khoảng cách chia lìa mỗi lúc một xa giữa hai người.

c. Chốn Hàm Kinh chàng còn ngoảnh lại, Bến Tiêu Tương thiếp hãy trông sang.

  • Phép đối: Chốn Hàm KinhBến Tiêu Tương, chàngthiếp, còn ngoảnh lạihãy trông sang.
  • Tác dụng: Miêu tả hai người ở hai không gian cách biệt nhưng vẫn luôn hướng về nhau. Phép đối nhấn mạnh tình cảm quyến luyến, yêu thương gắn bó không thể chia lìa.

Câu 5: Nêu và phân tích tác dụng của một số biện pháp tu từ được sử dụng trong bốn câu thơ cuối của đoạn trích.

Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy,

Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu.

Ngàn dâu xanh ngắt một màu,

Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?

a) Điệp ngữ: cùng, thấy, ngàn dâu, ai; đặc biệt là điệp ngữ vòng (ngàn dâu cuối câu 2 lặp lại đầu câu 3). → Tác dụng: Diễn tả sự đồng điệu trong tâm hồn của hai vợ chồng – cùng nhìn về nhau mà chẳng thấy; tạo cảm giác về một nỗi sầu triền miên, không dứt, dâng lên trào dâng mãnh liệt.

b) Hình ảnh ẩn dụ – ước lệ: “xanh xanh những mấy ngàn dâu”, “ngàn dâu xanh ngắt một màu”. → Tác dụng: Hình ảnh ngàn dâu vừa tả thực (cảnh thiên nhiên trong buổi đưa tiễn), vừa tượng trưng cho không gian xa cách mênh môngnỗi sầu trải dài trong lòng người chinh phụ.

c) Câu hỏi tu từ: “Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?”Tác dụng:lời than đầy day dứt, nhấn mạnh nỗi sầu cùng cực của cả hai người. Câu hỏi không cần lời đáp – bởi nỗi sầu nào có hơn thua, cả hai đều chìm trong nỗi nhớ thương khôn nguôi.

→ Bốn câu thơ là đỉnh điểm nỗi sầu của người chinh phụ, thể hiện trọn vẹn nỗi đau chia li trong chiến tranh.

Câu 6: Người chinh phụ tiễn người chinh phu ra trận với tâm trạng như thế nào? Qua tâm trạng đó, em hiểu gì thêm về giá trị của cuộc sống?

a) Tâm trạng của người chinh phụ:

  • Lưu luyến, bịn rịn không muốn rời xa trong khoảnh khắc tiễn biệt.
  • Đau đớn, xót xa (“đoạn trường”) khi phải chia tay chồng.
  • Thẫn thờ, ngẩn ngơ nhìn theo bóng chồng dần khuất.
  • Cô đơn, trống trải khi một mình trở về căn buồng cũ.
  • Lo lắng, bất an cho chồng nơi “cõi xa mưa gió” hiểm nguy.
  • Nhớ thương da diết, lòng và mắt luôn hướng về phương xa.

b) Giá trị của cuộc sống mà em rút ra:

Câu hỏi mở, em có thể chọn một trong các cách sau.

  • Cách 1: Qua tâm trạng người chinh phụ, em hiểu được giá trị quý báu của hoà bình. Chiến tranh đã chia rẽ bao gia đình, gây ra biết bao nỗi đau cho người ở lại. Em càng thêm trân trọng cuộc sống yên bình hôm nay và biết ơn những thế hệ cha ông đã hi sinh để giành lại độc lập, tự do.
  • Cách 2: Tâm trạng người chinh phụ giúp em hiểu giá trị của tình yêu thương gia đình. Trong cuộc sống, được ở bên người thân yêu là điều hạnh phúc nhất. Em cần trân trọng từng phút giây bên gia đình và biết yêu thương, quan tâm, chia sẻ với những người ruột thịt của mình.

Câu 7: Em có ấn tượng nhất với hình ảnh nào trong đoạn trích? Vì sao?

Câu hỏi mở, em có thể chọn một trong các cách sau.

  • Cách 1: Em ấn tượng nhất với hình ảnh:

    “Chàng thì đi cõi xa mưa gió,

    Thiếp thì về buồng cũ chiếu chăn.”

    Hai câu thơ sử dụng phép đối tài tình, dựng lên hai khoảng không gian hoàn toàn đối lập: một bên là “cõi xa mưa gió” đầy hiểm nguy nơi chiến trường, một bên là “buồng cũ chiếu chăn” trống trải, đơn chiếc. Hình ảnh ấy gợi lên trọn vẹn nỗi cô đơn, lo lắng, xót xa của người chinh phụ.

  • Cách 2: Em ấn tượng nhất với hình ảnh:

    “Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy,

    Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu.”

    Hình ảnh “ngàn dâu xanh” vừa tả thực, vừa ước lệ, gợi lên một không gian mênh mông xa cách. Hai người cùng ngoảnh nhìn về nhau nhưng chẳng còn thấy gì ngoài màu xanh ngút ngàn – đó là khoảnh khắc nỗi sầu chia li dâng lên đến tột cùng.

  • Cách 3: Em ấn tượng nhất với hình ảnh:

    “Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?”

    Câu hỏi tu từ kết thúc đoạn trích như một tiếng thở dài khắc khoải. Nỗi sầu chia li của hai người không thể đong đếm, không thể so sánh – cả hai đều cùng chìm trong nỗi nhớ thương khôn nguôi. Câu hỏi ấy để lại dư âm sâu lắng trong lòng người đọc.

V. Viết kết nối với đọc

Viết đoạn văn (khoảng 7 – 9 câu) phân tích tâm trạng của người chinh phụ thể hiện trong bốn câu thơ sau:

Chàng thì đi cõi xa mưa gió,

Thiếp thì về buồng cũ chiếu chăn.

Đoái trông theo đã cách ngăn,

Tuôn màu mây biếc trải ngần núi xanh.

Đoạn văn tham khảo 1:

Bốn câu thơ trên đã diễn tả sâu sắc tâm trạng đau đớn, cô đơn của người chinh phụ ngay sau giờ phút tiễn biệt chồng. Hai câu thơ đầu “Chàng thì đi cõi xa mưa gió, / Thiếp thì về buồng cũ chiếu chăn” sử dụng phép đối tài tình, dựng lên hai khoảng không gian đối lập hoàn toàn: một bên là chiến trường xa xôi đầy mưa gió, hiểm nguy mà người chồng phải xông pha; một bên là căn buồng cũ vắng lặng nơi người vợ trở về một mình. Phép đối ấy không chỉ khắc hoạ sự chia lìa về địa lí mà còn nhấn mạnh nỗi lo lắng cho chồngsự trống trải, cô đơn của chính nàng. Đến hai câu sau, người chinh phụ “đoái trông theo” nhưng tất cả đã “cách ngăn” bởi “màu mây biếc”, “ngần núi xanh” trải dài bất tận. Hình ảnh thiên nhiên hùng vĩ ấy vừa là khoảng cách thực, vừa tượng trưng cho nỗi sầu chia li mênh mang trong lòng người ở lại. Dù xa mặt, lòng nàng vẫn không thôi hướng về chồng nơi xa. Bốn câu thơ với phép đối, hình ảnh ước lệ giàu sức gợi đã khắc hoạ trọn vẹn nỗi đau, nỗi nhớ thương da diết của người chinh phụ, đồng thời gửi gắm tiếng nói tố cáo chiến tranh phong kiến phi nghĩa đã chia rẽ bao đôi lứa.

Đoạn văn tham khảo 2:

Bốn câu thơ trong đoạn trích Nỗi niềm chinh phụ đã thể hiện sâu sắc nỗi cô đơn và sự cách biệt ngàn trùng mà người chinh phụ phải gánh chịu. Mở đầu là hai câu thơ sóng đôi với phép đối chặt chẽ giữa “Chàng thì đi”“Thiếp thì về”, giữa “cõi xa mưa gió”“buồng cũ chiếu chăn”. Cách xưng hô “chàng – thiếp” vừa thể hiện sự gắn bó, kính trọng, vừa làm nổi bật khoảng cách đôi ngả. Người chinh phu phải dấn thân vào nơi gian khổ, hiểm nguy; còn người chinh phụ thì lui về căn buồng cũ, một mình đối diện với nỗi cô đơn. Hai câu sau “Đoái trông theo đã cách ngăn, / Tuôn màu mây biếc trải ngần núi xanh” mở ra một không gian thiên nhiên rộng lớn, hùng vĩ mà cũng đầy bi thương. Phép tiểu đối “tuôn màu mây biếc”“trải ngần núi xanh” cùng các động từ “tuôn”, “trải” gợi lên sự xa cách mỗi lúc một thăm thẳm. Mây và núi không chỉ là khoảng cách địa lí mà còn là bức tường ngăn cách lòng người, càng tô đậm thêm nỗi nhớ thương khắc khoải của người chinh phụ. Qua bốn câu thơ ngắn gọn mà hàm súc, ta cảm nhận được sự đồng cảm sâu sắc của tác giả và dịch giả trước số phận người phụ nữ trong thời chiến.

Thầy Nguyễn Thái Nhật Luật

Thầy Nguyễn Thái Nhật Luật

(Người kiểm duyệt, ra đề)

Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Ngữ Văn THCS

Trình độ: Cử nhân Sư phạm Ngữ Văn, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ B1

Kinh nghiệm: 8+ năm kinh nghiệm tại THCS Hồng Bàng