Soạn bài: Thực hành tiếng Việt trang 121 – Ngữ Văn 9 tập 1

Mục lục [Ẩn]

Chọn đến phần học sinh cần nhanh chóng thông qua mục lục bằng cách click đến phần đó

I. Lý thuyết trọng tâm

1. Khái niệm câu rút gọn

Câu rút gọn là câu có thành phần câu (thường là thành phần chính) bị tỉnh lược. Việc tỉnh lược chủ yếu do:

  • Phương châm tiết kiệm trong việc sử dụng ngôn ngữ, nhất là khi nói (lược bỏ những thông tin đã biết hoặc bị coi là lặp, thừa).
  • Dụng ý của người sử dụng (không muốn nêu rõ sự vật, sự việc nào đó trong câu).

2. Nhận biết câu rút gọn

Câu rút gọn có thể là:

a) Câu có chủ ngữ bị tỉnh lược.

Ví dụ:

Ai đã trồng những cây hoa này?Mẹ tôi. (rút gọn vị ngữ)

b) Câu có vị ngữ bị tỉnh lược.

Ví dụ:

Anh đang làm gì?Đọc sách. (rút gọn chủ ngữ)

c) Câu tỉnh lược cả chủ ngữ và vị ngữ, chỉ giữ lại thành phần cung cấp thông tin cần thiết, cốt lõi trong một ngữ cảnh giao tiếp cụ thể (như trạng ngữ, bổ ngữ hoặc định ngữ).

Ví dụ:

Bao giờ anh đi Hà Nội?Ngày mai. (chỉ giữ lại trạng ngữ)

3. Lưu ý khi rút gọn câu

  • Không làm cho câu trở nên cộc lốc, thiếu tính lịch sự.
  • Hạn chế dùng câu rút gọn khi nói với người trên hoặc những người mình kính trọng.

Ví dụ:

Hôm nay con có đi học không?Không. (câu nói không lễ phép)

  • Trong một số ngữ cảnh, câu rút gọn có thể gây hiểu lầm, cần thận trọng khi sử dụng.

II. Luyện tập

Bài tập 1 (trang 121 – 122): Tìm câu rút gọn trong các lời thoại kịch sau và cho biết thành phần nào của câu bị tỉnh lược:

Giu-li-ét: – Chỉ có tên họ chàng là thù địch của em thôi. Nhưng nếu chẳng phải là người họ Môn-ta-ghiu thì chàng cũng vẫn là chàng. Chàng ơi! Hãy mang tên họ nào khác đi! Thế nào là họ Môn-ta-ghiu nhỉ? […] Rô-mê-ô chàng ơi, chàng hãy từ bỏ tên họ đi. Cái tên kia đâu có phải xương thịt của chàng, chàng hãy đổi nó lấy cả tấm thân em.

Rô-mê-ô: Đúng là từ miệng nàng nói ra nhé! Chỉ cần được nàng gọi là người yêu là tôi xin tức thì nhận tên thánh mới; từ nay trở đi, tôi không muốn bao giờ là Rô-mê-ô nữa.

Trong lời thoại có 2 câu rút gọn:

STT Câu rút gọn Thành phần bị tỉnh lược
1 Hãy mang tên họ nào khác đi! Chủ ngữ
2 Đúng là từ miệng nàng nói ra nhé! Chủ ngữ

Bài tập 2 (trang 122): Dựa vào ngữ cảnh, hãy chuyển các câu rút gọn tìm được ở bài tập 1 thành câu đầy đủ. So sánh câu rút gọn và câu đầy đủ để làm rõ tác dụng của việc dùng câu rút gọn trong ngữ cảnh đó.

a) Câu 1: “Hãy mang tên họ nào khác đi!”

  • Câu đầy đủ: Chàng hãy mang tên họ nào khác đi!
  • Tác dụng của câu rút gọn: câu được tỉnh lược chủ ngữ (biểu thị người tiếp nhận), làm cho ý cầu khiến được thể hiện một cách mạnh mẽ và dứt khoát hơn.

b) Câu 2: “Đúng là từ miệng nàng nói ra nhé!”

  • Câu đầy đủ: Những lời này đúng là từ miệng nàng nói ra nhé!
  • Tác dụng của câu rút gọn: tỉnh lược chủ ngữ giúp dồn nén thông tin trong một câu, tạo mối liên kết giữa câu nói của Rô-mê-ô với những câu mà Giu-li-ét đã nói trước đó, đồng thời làm tăng tính khẩu ngữ, tính tự nhiên cho câu nói.

Bài tập 3 (trang 122): Những câu văn in đậm sau rút gọn thành phần nào? Nêu tác dụng của việc dùng câu rút gọn trong các ngữ cảnh.

a. – Nhưng chiếc tàu chuyển động chứ? Thưa ngài, không! Nó bập bềnh trên sóng, chứ chẳng chuyển động chút nào. (Giuyn Véc-nơ, Hai vạn dặm dưới biển)

  • Thành phần bị rút gọn: rút gọn chủ ngữthành phần trung tâm của vị ngữ (động từ “chuyển động”), chỉ giữ lại từ phủ định “không” – thông tin quan yếu nhất của câu.
  • Câu đầy đủ: Thưa ngài, những chiếc tàu không chuyển động!
  • Tác dụng: nhấn mạnh thông tin phủ định, làm câu ngắn gọn, dứt khoát.

b. Một ngày chúng tôi phá bom đến năm lần. Ngày nào ít: ba lần. (Lê Minh Khuê, Những ngôi sao xa xôi)

  • Thành phần bị rút gọn: rút gọn chủ ngữ, thành phần trung tâm của vị ngữ (động từ “phá”) và bổ ngữ cho động từ (danh từ “bom”), chỉ giữ lại thành phần phụ chỉ số lần thực hiện hành động phá bom trong một ngày (“ba lần”).
  • Câu đầy đủ: Ngày nào ít: chúng tôi phá bom ba lần.
  • Tác dụng: nhấn mạnh số lần phá bom trong ngày – thông tin mà người nói muốn nhấn mạnh; đồng thời tạo sự ngắn gọn, mạch lạc cho câu văn.

Bài tập 4 (trang 122 – 123): Đọc các đoạn văn sau và thực hiện yêu cầu bên dưới:

a. – Anh đã nhìn thấy chim chìa vôi nó bay từ bãi cát vào bờ bao giờ chưa? Chưa. – Tổ chim sẽ bị chìm mất. (Nguyễn Quang Thiều, Bầy chim chìa vôi)

  • Câu rút gọn: Chưa.
  • Câu đầy đủ: Anh chưa bao giờ nhìn thấy chim chìa vôi nó bay từ bãi cát vào bờ.
  • Tác dụng: tăng tính khẩu ngữ, làm cho cuộc đối thoại tự nhiên, ngắn gọn.

b. Tôi đi đứng oai vệ. Mỗi bước đi, tôi làm điệu dún dẩy các khoeo chân, rung lên rung xuống hai chiếc râu. Cho ra kiểu cách con nhà võ. (Tô Hoài, Dế Mèn phiêu lưu kí)

  • Câu rút gọn: Cho ra kiểu cách con nhà võ.
  • Câu đầy đủ: Mỗi bước đi tôi làm cho ra kiểu cách con nhà võ.
  • Tác dụng: nhấn mạnh mục đích của hoạt động (việc đi đứng dún dẩy là để ra kiểu cách con nhà võ).

c. – Cậu làm trò gì thế? Sao lại ăn trộm hòn đá này? – Chúng ta không ăn trộm! – Hắn nhún vai. – Chúng ta chỉ mượn tạm thôi! Dùng xong sẽ mang trả lại! Tớ cũng tò mò muốn biết nơi nào được gọi là trung tâm của vũ trụ. (Hà Thuỷ Nguyên, Thiên Mã)

  • Câu rút gọn: Dùng xong sẽ mang trả lại!
  • Câu đầy đủ: Chúng ta dùng hòn đá xong sẽ mang nó trả lại.
  • Tác dụng: tăng tính khẩu ngữ, làm câu nói ngắn gọn, tự nhiên.

d. Mặt trời lại rọi lên ngày thứ sáu của tôi trên đảo Thanh Luân một cách thật quá là đầy đủ. Tôi dậy từ canh tư. Còn tối đất, cố đi mãi trên đá đầu sư, ra thấu đầu mũi đảo. Và ngồi đó rình mặt trời lên. (Nguyễn Tuân, Cô Tô)

  • Câu rút gọn: Và ngồi đó rình mặt trời lên.
  • Câu đầy đủ: tôi ngồi đó rình mặt trời lên.
  • Tác dụng: tạo sự liền mạch cho chuỗi các hoạt động của nhân vật, tránh lặp lại chủ ngữ “tôi” đã xuất hiện ở câu trước.
Thầy Nguyễn Thái Nhật Luật

Thầy Nguyễn Thái Nhật Luật

(Người kiểm duyệt, ra đề)

Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Ngữ Văn THCS

Trình độ: Cử nhân Sư phạm Ngữ Văn, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ B1

Kinh nghiệm: 8+ năm kinh nghiệm tại THCS Hồng Bàng