Soạn bài: Thực hành tiếng Việt trang 28 – Ngữ Văn 9 tập 2

Mục lục [Ẩn]

Chọn đến phần học sinh cần nhanh chóng thông qua mục lục bằng cách click đến phần đó

I. Lý thuyết trọng tâm

1. Mục đích của việc lựa chọn câu đơn hoặc câu ghép

Do cấu trúc khác nhau nên câu đơn và câu ghép có sự khác biệt trong việc biểu đạt nghĩa, nhằm đến những mục đích giao tiếp khác nhau.

Trong hoạt động giao tiếp, tuỳ thuộc vào mục đích, kiểu loại văn bản, ngữ cảnh và nội dung cần biểu đạt mà người nói (người viết) lựa chọn câu đơn hay câu ghép cho phù hợp:

  • Khi thể hiện một sự việc, có thể sử dụng câu đơn.
  • Khi thể hiện các sự việc và muốn nhấn mạnh mối quan hệ giữa các sự việc đó thì sử dụng câu ghép.

2. Ví dụ

“Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị.” (Hồ Chí Minh, Tuyên ngôn Độc lập)

→ Đây là một câu ghép đẳng lập có ba vế, liệt kê ba sự kiện.

Để biểu đạt ý liệt kê này, ta có thể dùng ba câu đơn: “Pháp chạy. Nhật hàng. Vua Bảo Đại thoái vị.”. Tuy nhiên, việc thể hiện ba sự kiện bằng ba câu đơn riêng biệt như vậy sẽ không biểu đạt được hiệu quả ý nhấn mạnh sự nối tiếp và mối quan hệ chặt chẽ giữa ba sự kiện.

II. Luyện tập

Bài tập 1 (trang 28): Xác định quan hệ ý nghĩa giữa các vế trong những câu ghép dưới đây. Có thể tách mỗi vế của câu ghép thành một câu đơn được không? Vì sao?

a. “Chẳng những thái ấp của ta không còn, mà bổng lộc các ngươi cũng mất; chẳng những gia quyến của ta bị tan, mà vợ con các ngươi cũng khốn; chẳng những xã tắc tổ tông ta bị giày xéo, mà phần mộ cha mẹ các ngươi cũng bị quật lên…” (Trần Quốc Tuấn, Hịch tướng sĩ)

→ Các vế câu có quan hệ liệt kê, tăng cấp. → Không nên tách mỗi vế câu thành câu đơn vì ý nghĩa của các vế có quan hệ chặt chẽ với nhau: việc liệt kê hàng loạt những mất mát theo cấp độ tăng dần giúp nhấn mạnh hậu quả thảm khốc nếu để mất nước, từ đó khơi gợi tinh thần trách nhiệm của các tướng sĩ.

b. “Nếu con chưa đi, cụ Nghị chưa giao tiền cho, u chưa có tiền nộp sưu thì không khéo thầy con sẽ chết ở đình, chứ không sống được.” (Ngô Tất Tố, Tắt đèn)

→ Các vế câu có quan hệ giả thiết – hệ quả. Trong vế nêu giả thiết (Nếu con chưa đi, cụ Nghị chưa giao tiền cho, u chưa có tiền nộp sưu) có ba vế thể hiện ba sự việc tiếp nối nhau theo trật tự thời gian, có quan hệ nguyên nhân – kết quả. → Không thể tách mỗi vế của câu ghép thành một câu đơn, vì như vậy sẽ phá vỡ chuỗi nguyên nhân – kết quả và làm mất đi mối liên hệ chặt chẽ, khẩn thiết giữa các sự việc.

Bài tập 2 (trang 28): Hãy chuyển đổi các câu đơn trong mỗi trường hợp sau thành câu ghép và nhận xét sự khác biệt về ý nghĩa giữa các câu đơn ban đầu và câu ghép có được sau khi chuyển đổi.

a. “Rõ ràng Phạm Xuân Ẩn có cuộc đời của nhân vật tiểu thuyết. Nhưng các nhà báo Việt Nam cũng như nhà báo nước ngoài mới chỉ có được “vài chớp đèn flash” nắm bắt những nét thoảng qua nào đó của cuộc đời ông theo một số sự kiện lịch sử lớn lao.” (Nguyễn Thị Ngọc Hải, Phạm Xuân Ẩn – tên người như cuộc đời)

Chuyển thành câu ghép: Rõ ràng Phạm Xuân Ẩn có cuộc đời của nhân vật tiểu thuyết nhưng các nhà báo Việt Nam cũng như nhà báo nước ngoài mới chỉ có được “vài chớp đèn flash” nắm bắt những nét thoảng qua nào đó của cuộc đời ông theo một số sự kiện lịch sử lớn lao.

Nhận xét: So với câu ghép, cách diễn đạt bằng hai câu đơn có tác dụng nhấn mạnh hơn thông tin: các nhà báo nước ngoài mới chỉ nắm bắt được vài nét ít ỏi về Phạm Xuân Ẩn, trong khi cuộc đời ông phong phú, hấp dẫn như một nhân vật tiểu thuyết.

b. “Thầy dạy rất ân cần, tỉ mỉ, chỉ bảo cho chúng tôi từng li từng tí: cách tô màu, đánh bóng, cả cách gọt bút chì thế nào cho đẹp và dễ vẽ. Nhưng thú vị hơn cả là những câu chuyện của thầy.” (Xuân Quỳnh, Thầy giáo dạy vẽ)

Chuyển thành câu ghép: Thầy dạy rất ân cần, tỉ mỉ, chỉ bảo cho chúng tôi từng li từng tí: cách tô màu, đánh bóng, cả cách gọt bút chì thế nào cho đẹp và dễ vẽ nhưng thú vị hơn cả là những câu chuyện của thầy.

Nhận xét: So với câu ghép, cách diễn đạt bằng hai câu đơn có tác dụng nhấn mạnh hơn thông tin: những câu chuyện của thầy thú vị hơn cả so với những điều thầy chỉ bảo về kĩ thuật vẽ.

c. “Chắc cô giáo rất vui trước món quà của em, giữa bao món quà của các bạn. Và em sẽ không để tên mình – tên người mang cánh buồm tặng cô.” (Lâm Thị Mỹ Dạ, Cánh buồm ngũ sắc)

Chuyển thành câu ghép: Chắc cô giáo rất vui trước món quà của em, giữa bao món quà của các bạn em sẽ không để tên mình – tên người mang cánh buồm tặng cô.

Nhận xét: So với câu ghép, cách diễn đạt bằng hai câu đơn có tác dụng nhấn mạnh hơn thông tin: “em” sẽ không để tên mình trên món quà tặng cô – thể hiện sự tinh tế, khiêm nhường của nhân vật.

Bài tập 3 (trang 28): Các đoạn trích sau vừa có câu đơn vừa có câu ghép. Hãy chỉ ra sự phù hợp giữa kiểu cấu trúc câu và ý nghĩa cần biểu đạt của mỗi câu.

a. “Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa! Không! Chúng ta thà hi sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ.” (Hồ Chí Minh, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến)

Câu Kiểu câu Ý nghĩa biểu đạt
Câu 1: Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta phải nhân nhượng. Câu ghép (2 vế) Diễn tả mong muốn của ta (hoà bình) và thái độ đối với thực dân Pháp (nhân nhượng)
Câu 2: Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa! Câu ghép (2 vế) Vế 1 nêu thực tế xảy ra, vế 2 giải thích nguyên nhân (do dã tâm của thực dân Pháp)
Câu 3: Không! Câu đặc biệt Khẳng định dứt khoát, mạnh mẽ thái độ
Câu 4: Chúng ta thà hi sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ. Câu đơn Thể hiện tinh thần quyết tâm đứng lên cứu nước của nhân dân ta

b. “Vì sao sau khi đất nước thống nhất, cả nước và thế giới biết rõ ông là tình báo, vậy mà người Mỹ trong giới báo chí hoạt động cùng thời với ông nay trở lại Việt Nam vẫn đem lòng tin tưởng và kính trọng ông? Đó là một nhân cách, một tài năng. Đời ông là một câu trả lời lớn cho nhiều câu hỏi vẫn làm đau đầu nhiều người bạn Mỹ của ông.” (Nguyễn Thị Ngọc Hải, Phạm Xuân Ẩn – tên người như cuộc đời)

Câu Kiểu câu Ý nghĩa biểu đạt
Câu 1: Vì sao sau khi đất nước thống nhất… vẫn đem lòng tin tưởng và kính trọng ông? Câu ghép (quan hệ tương phản) Diễn tả: thế giới biết rõ ông là tình báo nhưng người Mỹ vẫn tin tưởng, kính trọng ông
Câu 2: Đó là một nhân cách, một tài năng. Câu đơn Khẳng định, ca ngợi con người Phạm Xuân Ẩn
Câu 3: Đời ông là một câu trả lời lớn cho nhiều câu hỏi vẫn làm đau đầu nhiều người bạn Mỹ của ông. Câu đơn Khẳng định, ca ngợi cuộc đời ý nghĩa của Phạm Xuân Ẩn

Bài tập 4 (trang 28): Viết đoạn văn (khoảng 5 – 7 câu) trình bày cảm nghĩ của em về nhà tình báo Phạm Xuân Ẩn sau khi đọc văn bản Phạm Xuân Ẩn – tên người như cuộc đời, trong đoạn văn có ít nhất một câu ghép.

Đoạn văn tham khảo 1:

Sau khi đọc văn bản Phạm Xuân Ẩn – tên người như cuộc đời, em vô cùng cảm phục và ngưỡng mộ nhà tình báo lỗi lạc này. Ông là người Việt Nam đầu tiên sang Mỹ học báo chí và cũng là người duy nhất vào biên chế của hãng thông tấn nước ngoài, nhưng ít ai biết rằng ông còn là một chiến sĩ tình báo xuất sắc của Quân đội Nhân dân Việt Nam (câu ghép – quan hệ tương phản). Suốt mấy chục năm hoạt động giữa lòng địch, ông đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà vẫn giữ được sự kính trọng của các đồng nghiệp người Mỹ. Điều khiến em xúc động nhất là phẩm chất “honor” – tự trọng, danh dự – và sự “trầm lặng” mà mạnh mẽ trong con người ông. Phạm Xuân Ẩn không chỉ là một tài năng mà còn là một nhân cách lớn, là tấm gương sáng cho thế hệ trẻ Việt Nam noi theo. Em tự hào vì đất nước ta có những con người Việt Nam đặc sắc như ông.

Đoạn văn tham khảo 2:

Đọc văn bản Phạm Xuân Ẩn – tên người như cuộc đời của Nguyễn Thị Ngọc Hải, em vô cùng khâm phục cuộc đời và sự nghiệp của nhà tình báo Phạm Xuân Ẩn. Ông là một người trí thức tài năng, vừa là kí giả có tên tuổi của các hãng thông tấn lớn, vừa là Thiếu tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang của Quân đội Nhân dân Việt Nam. đất nước cần những con người có thể “chuyển qua làm với Mỹ” để chiến thắng kẻ thù nên ông đã được Đảng đào tạo và giao trọng trách hoạt động trong lòng địch (câu ghép – quan hệ nguyên nhân – kết quả). Điều kì diệu là dù đã bộc lộ thân phận tình báo, ông vẫn được các đồng nghiệp người Mỹ tin tưởng, kính trọng – điều đó cho thấy nhân cách cao quý và sự chân thành của ông. Em hiểu rằng đằng sau những huyền thoại là cả một tâm hồn Việt Nam dịu dàng, can đảm và yêu thương. Cuộc đời Phạm Xuân Ẩn đã giúp em hiểu thêm về vẻ đẹp tâm hồn của những người con đất Việt.

Thầy Nguyễn Thái Nhật Luật

Thầy Nguyễn Thái Nhật Luật

(Người kiểm duyệt, ra đề)

Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Ngữ Văn THCS

Trình độ: Cử nhân Sư phạm Ngữ Văn, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ B1

Kinh nghiệm: 8+ năm kinh nghiệm tại THCS Hồng Bàng