Chọn đến phần học sinh cần nhanh chóng thông qua mục lục bằng cách click đến phần đó
I. Lý thuyết trọng tâm
1. Khái niệm
Chơi chữ là biện pháp tu từ vận dụng các đặc điểm ngữ âm, ngữ nghĩa hoặc quy tắc kết hợp từ ngữ một cách khéo léo, sáng tạo nhằm đem lại những liên tưởng bất ngờ, thú vị cho người đọc (người nghe).
2. Một số cách chơi chữ thường gặp
a. Dùng từ đồng âm
Trăng bao nhiêu tuổi trăng già
Núi bao nhiêu tuổi gọi là núi non? (Ca dao)
→ non (nghĩa là núi) đồng âm với non (nghĩa là mới mọc, ít tuổi, trái nghĩa với già) tạo tính hài hước, dí dỏm.
b. Dùng từ gần âm (trại âm)
Sánh với Na-va “ranh tướng” Pháp Tiếng tăm nồng nặc ở Đông Dương. (Tú Mỡ)
→ Tác giả không dùng danh tướng (viên tướng có tài) mà trại âm thành “ranh tướng” (ranh: ma mãnh; bé, nhỏ) để chế giễu tên tướng giặc một cách sâu cay.
c. Dùng lối điệp âm
Mênh mông muôn mẫu một màu mưa
Mỏi mắt miên man mãi mịt mờ. (Tú Mỡ)
→ Điệp âm “m” diễn tả vẻ mịt mờ của không gian đầy mưa, tạo nét đặc sắc cho câu thơ.
d. Dùng lối nói lái
Cô công nói với cậu rùa, Rồng ở dưới đất, còn cua trên trời. (Ca dao)
→ Nói lái: công – rùa ↔ cua – rồng, tạo cảm nhận thú vị, bất ngờ.
e. Dùng từ trái nghĩa
Mời cô, mời bác ăn cùng, Sầu riêng mà hoá vui chung trăm nhà. (Phạm Hổ)
→ Sầu riêng (tên một loại trái cây) đồng âm với từ trái nghĩa của vui chung, tạo ý thơ bất ngờ, thú vị.
g. Dùng từ đồng nghĩa, gần nghĩa hoặc cùng trường nghĩa
Chàng Cóc ơi! Chàng Cóc ơi!
Thiếp bén duyên chàng có thế thôi.
Nòng nọc đứt đuôi từ đây nhé,
Ngàn vàng khôn chuộc dấu bôi vôi. (Hồ Xuân Hương)
→ Dùng loạt từ cùng trường nghĩa chỉ con vật lưỡng cư: chàng (chẫu chàng), cóc, bén (nhái bén), nòng nọc, chuộc (chẫu chuộc), tạo sự hài hước, dí dỏm.
Lưu ý: Các cách chơi chữ trên có thể được sử dụng độc lập hoặc kết hợp với nhau, làm phong phú thêm cho tư duy và tạo sự ý vị, hấp dẫn cho lời nói.
II. Luyện tập
Bài tập 1 (trang 44 – 45): Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ chơi chữ trong các trường hợp dưới đây.
a. Một nghề cho chín còn hơn chín nghề. (Tục ngữ)
- Biện pháp: dùng từ đồng âm. chín (1) là tính từ chỉ sự “nắm chắc, tinh thông, kĩ lưỡng”; chín (2) là số từ chỉ “số lượng nhiều”.
- Tác dụng: làm phong phú tư duy (cùng âm đọc nhưng nghĩa khác nhau), đồng thời nhấn mạnh bài học: thà giỏi một nghề còn hơn biết nhiều nghề mà không tinh thông.
b. Nấu đậu phụ cho cha ăn / Sắc ích mẫu cho mẹ uống. (Câu đối)
- Biện pháp: dùng từ đồng âm kết hợp đồng nghĩa. phụ (yếu tố Hán Việt nghĩa là cha) đồng âm với phụ trong đậu phụ; mẫu (yếu tố Hán Việt nghĩa là mẹ) đồng âm với mẫu trong ích mẫu.
- Tác dụng: vừa làm phong phú tư duy về các yếu tố Hán Việt đồng âm, vừa tạo nên sự ý vị, hấp dẫn cho câu đối (tên các thức ăn, thuốc bồi bổ lại chứa yếu tố gợi nhớ đến cha mẹ).
c. Giậu rào mắt cáo, mèo chui lọt / Rổ nức lòng tôm, tép nhảy qua. (Nguyễn Huy Lượng)
- Biện pháp: dùng từ cùng trường nghĩa kết hợp từ đồng âm. cáo (con cáo) cùng trường nghĩa với mèo (loài thú), đồng thời cáo đồng âm với cáo trong mắt cáo (lỗ trống do nan đan tạo thành); tương tự tôm – tép và tôm trong lòng tôm (hình dáng lõm của lòng rổ).
- Tác dụng: tạo sự hấp dẫn, dí dỏm – sự vật được tạo ra để ngăn con vật nhưng tên gọi lại liên quan đến chính con vật đó, mà công năng lại không phát huy (giậu mắt cáo không ngăn được mèo; rổ lòng tôm không ngăn được tép).
d. Bánh cả thúng sao gọi là bánh ít? / Trầu cả khay sao dám gọi trầu không? (Ca dao)
- Biện pháp: dùng từ trái nghĩa kết hợp từ đồng âm. bánh ít (tên loại bánh) – ít đồng âm trái nghĩa với nhiều (cả thúng); trầu không (tên loại trầu) – không đồng âm trái nghĩa với có (cả khay).
- Tác dụng: tạo sự hấp dẫn, dí dỏm – lời nói tưởng vô lí mà thực ra rất có lí, làm phong phú tư duy ngôn ngữ.
e. Thấy nếp thì lại thèm xôi / Ngồi bên thúng gạo nhớ nồi cơm thơm. (Ca dao)
- Biện pháp: dùng từ cùng trường nghĩa: nếp, xôi, gạo, cơm đều là danh từ liên quan đến cây lúa.
- Tác dụng: tạo sự ý vị, hấp dẫn – những sản vật của nền nông nghiệp lúa nước được nhắc đến một cách thân thương.
g. Con ngựa đá con ngựa đá, con ngựa đá không đá con ngựa. (Vế đối cổ)
- Biện pháp: dùng từ đồng âm. đá (1) là động từ chỉ hành động dùng chân tác động; đá (2) là danh từ chỉ chất rắn (con ngựa làm bằng đá).
- Tác dụng: tạo nên câu nói khó hiểu như câu đố, làm phong phú tư duy ngôn ngữ; khi hiểu ra hiện tượng đồng âm thì lại thấy ý nghĩa rất giản dị.
h. Anh Hươu đi chợ Đồng Nai / Bước qua Bến Nghé, ngồi nhai thịt bò. (Ca dao)
- Biện pháp: dùng từ đồng âm kết hợp từ cùng trường nghĩa. Các địa danh và nhân danh (chợ Đồng Nai, Bến Nghé, anh Hươu) chứa các tiếng đồng âm với nai, nghé, hươu – cùng trường nghĩa với bò, đều là loài động vật bốn chân.
- Tác dụng: tạo sự ý vị, hấp dẫn cho lời nói – các địa danh có âm gần với tên các loài vật.
i. Con cá đối bỏ trong cối đá / Con mèo cái nằm trên mái kèo. (Ca dao)
- Biện pháp: dùng lối nói lái: cá đối ↔ cối đá; mèo cái ↔ mái kèo.
- Tác dụng: làm phong phú tư duy (gợi sự suy ngẫm vì sao con vật ở vị trí ấy), tạo sự hấp dẫn, thú vị từ mối liên hệ bất ngờ giữa tên loài vật và vị trí của chúng.
k. Một trăm thứ dầu, dầu xoa không ai thắp; / Một trăm thứ bắp, bắp chuối chẳng ai rang; / Một trăm thứ than, than thân không ai quạt; / Một trăm thứ bạc, bạc tình bán chẳng ai mua. (Ca dao)
- Biện pháp: dùng từ đồng âm.
- dầu (nhiên liệu) – dầu (dược phẩm: dầu xoa).
- bắp (lương thực, ngô) – bắp (bắp chuối).
- than (nhiên liệu) – than (động từ chỉ hành động thốt lên về nỗi khổ).
- bạc (kim loại quý) – bạc (trong bạc tình – bội bạc).
- Tác dụng: mở rộng liên tưởng về các từ đồng âm, tạo sự bất ngờ, ý vị; qua đó gửi gắm những bài học sâu sắc về cách sống ở đời.
Bài tập 2 (trang 45): Nêu một trường hợp (trong giao tiếp hằng ngày hoặc trong tác phẩm văn học) có sử dụng biện pháp tu từ chơi chữ. Biện pháp tu từ chơi chữ được sử dụng trong trường hợp đó có tác dụng gì?
Câu hỏi mở, em có thể tham khảo các trường hợp sau.
Trường hợp 1:
Mùa xuân em đi chợ Hạ, Mua cá thu về, chợ hãy còn đông. (Ca dao)
- Biện pháp: dùng từ cùng trường nghĩa kết hợp từ đồng âm. Xuân – Hạ – Thu – Đông là 4 mùa, đồng thời: Hạ (địa danh – chợ Hạ), thu (loài cá – cá thu), đông (đông đúc, nhiều người).
- Tác dụng: làm phong phú tư duy (liên tưởng các từ trong cùng trường nghĩa với từ đồng âm), tạo sự bất ngờ, thú vị cho câu ca dao.
Trường hợp 2:
Rắn hổ đất leo cây thục địa, Ngựa nhà trời ăn cỏ chỉ thiên. (Ca dao)
- Biện pháp: dùng từ đồng nghĩa. địa (trong thục địa) đồng nghĩa với đất; thiên (trong chỉ thiên) đồng nghĩa với trời.
- Tác dụng: làm phong phú tư duy (liên tưởng ý nghĩa các thành tố Hán Việt trong tên các loài), tạo nên sự thú vị qua sự tương tác bất ngờ giữa con vật và loài cây có tên chứa yếu tố đồng nghĩa.
Trường hợp 3:
Bà già đi chợ Cầu Đông, Bói xem một quẻ lấy chồng lợi chăng? Thầy bói gieo quẻ nói rằng: Lợi thì có lợi, nhưng răng chẳng còn. (Ca dao)
- Biện pháp: dùng từ đồng âm. Lợi (1) là “lợi ích, có lợi”; lợi (2) là “phần thịt bao quanh chân răng”.
- Tác dụng: tạo tiếng cười dí dỏm, hài hước, đồng thời gửi gắm bài học sâu sắc: bà già đã rụng hết răng mà còn nghĩ chuyện lấy chồng thì cái “lợi” ấy chẳng còn ý nghĩa gì nữa.

Thầy Nguyễn Thái Nhật Luật
(Người kiểm duyệt, ra đề)
Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Ngữ Văn THCS
Trình độ: Cử nhân Sư phạm Ngữ Văn, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ B1
Kinh nghiệm: 8+ năm kinh nghiệm tại THCS Hồng Bàng
