Chọn đến phần học sinh cần nhanh chóng thông qua mục lục bằng cách click đến phần đó
I. Tìm hiểu chung
1. Tác giả
Trần Văn Toàn sinh năm 1973, quê ở Nam Định (nay thuộc tỉnh Ninh Bình), là giảng viên, nhà nghiên cứu, phê bình văn học. Một số công trình tiêu biểu: Văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến 1945 (viết chung, 2016), Lược sử văn học Việt Nam (viết chung, 2022)…
2. Tác phẩm
- Xuất xứ: Văn bản được in trong cuốn Nguyễn Nhật Ánh – Hiệp sĩ của tuổi thơ (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2015).
- Thể loại: văn bản nghị luận văn học (viết về tác phẩm văn học).
- Phương thức biểu đạt chính: nghị luận.
- Luận đề: suy ngẫm về những phẩm chất cần có của một tác phẩm văn học viết cho thiếu nhi.
- Bố cục (3 phần):
- Phần (1): nhân dạng khác biệt của Quỳnh và thái độ của mọi người đối với nhân dạng ấy.
- Phần (2): nhân dạng con người là một tạo tác mang tính văn hoá.
- Phần (3): những phẩm chất cần có của một tác phẩm văn học viết cho thiếu nhi.
Lưu ý: Thằng quỷ nhỏ là truyện dài của Nguyễn Nhật Ánh, gồm 21 chương; nhân vật chính là Quỳnh – cậu bé có biệt danh “thằng quỷ nhỏ” bởi ngoại hình khác thường.
II. Trước khi đọc
Câu hỏi: Em đã đọc tác phẩm văn học nào viết về những con người có ngoại hình khác lạ? Chia sẻ ngắn gọn cảm nhận của em về tác phẩm ấy.
Câu hỏi mở, em có thể chọn một trong các cách sau.
- Cách 1: Em đã đọc truyện cổ tích Sọ Dừa. Nhân vật Sọ Dừa có ngoại hình kì lạ – chỉ là một cục thịt tròn lông lốc, không tay không chân. Nhưng đằng sau ngoại hình ấy là một chàng trai thông minh, tài giỏi, hiếu thảo. Tác phẩm dạy em bài học: đừng đánh giá con người qua vẻ bề ngoài.
- Cách 2: Em đã đọc truyện Cô bé Lọ Lem và biết đến nhân vật Quasimodo trong Nhà thờ Đức Bà Paris (Victor Hugo). Quasimodo có ngoại hình xấu xí, dị dạng nhưng lại có tâm hồn cao thượng, biết yêu thương sâu sắc. Câu chuyện khiến em xúc động và hiểu rằng vẻ đẹp đích thực nằm ở tâm hồn.
- Cách 3: Em đã đọc truyện Thằng quỷ nhỏ của Nguyễn Nhật Ánh. Quỳnh có đôi tai to và chiếc mũi đỏ ửng nên bị bạn bè gọi là “thằng quỷ nhỏ”. Tuy bị xa lánh nhưng Quỳnh là một cậu bé tốt bụng, khéo léo, biết yêu thương. Truyện đã để lại trong em nỗi xót xa cho những người mang ngoại hình khác lạ.
III. Trong khi đọc
1. Theo dõi: Cách giải thích của tác giả bài nghị luận về nhan đề của tác phẩm văn học được bàn luận
- Chữ “quỷ” mà Nguyễn Nhật Ánh sử dụng trong nhan đề để chỉ sự kì dị trong nhân dạng.
- Quỳnh – người mang biệt danh “thằng quỷ nhỏ” – được miêu tả với: hai vành tai to (mỗi khi có tâm trạng lại ve vẩy như cánh bướm), chiếc mũi to, đỏ ửng, lấm tấm mồ hôi.
- Những nét kì dị ấy gắn với gương mặt nên trở thành khiếm khuyết không thể che giấu, là dấu hiệu thường trực để nhận biết về nhân vật.
2. Theo dõi: Những lí lẽ và bằng chứng tác giả sử dụng để phân tích thái độ của các nhân vật trong truyện đối với Quỳnh
Lí lẽ:
- Trong mắt mọi người, Quỳnh chỉ là một thằng hề, để tiêu khiển, mua vui cho đám đông vô tâm.
- Ngay cả Hạnh (lớp trưởng đúng mực) cũng giữ khoảng cách mênh mông với Quỳnh.
- Mọi tình cảm bình thường của Quỳnh, trong mắt bạn bè, đều trở thành khác thường, kệch cỡm.
Bằng chứng:
- Trích dẫn trực tiếp: “Họ lấy anh làm trò tiêu khiển…”; “Bàn có hai người, nhưng mỗi người ngồi tít một đầu, chừa khoảng trống ở giữa.”
- Phản ứng của Nga: “Cứ hình dung đến cảnh phải đi chơi bên cạnh một con người có cái mũi to tướng… Nga bất giác rùng mình.”
- So sánh phản ứng của Nga với Khải (ghét) và với Quỳnh (sợ).
3. Chú ý: Quan điểm của tác giả về nhân dạng của con người
- Nhân dạng không phải chỉ là bề ngoài, một thứ “nước sơn”.
- Nhân dạng cũng được nhào nặn và xét đoán theo các chuẩn mực giá trị, được định giá bởi cộng đồng.
- Một kẻ có nhân dạng dị thường, lạc loài khó được chấp nhận có một tâm hồn bình thường trong mắt người khác.
→ Nhân dạng là một tạo tác mang tính văn hoá.
4. Theo dõi: Lí giải của tác giả về cách ứng xử và phản ứng của chúng ta trước một chân dung khác lạ
- Trong bất kì xã hội nào, luôn tồn tại các quy chuẩn. Các quy chuẩn này hàm ẩn sự bài trừ, gạt bỏ những gì lệch khỏi giới hạn.
- Từ đó hình thành cặp nhị phân: bình thường – bất bình thường (trong trí tuệ, giới tính, hành vi và cả nhân dạng).
- Sự bất bình thường về nhân dạng đã ấn định cho người đó vị thế của kẻ lạc loài.
- Chuẩn mực mang trong nó quyền lực và sức mạnh áp đặt, buộc cá nhân phải tuân thủ.
5. Chú ý: Quan điểm của tác giả về phẩm chất của một tác phẩm văn học thiếu nhi
Một tác phẩm văn học thiếu nhi cần:
- Góp phần hình thành những chuẩn mực văn hoá, nhưng cũng cần nhận diện đầy đủ về những gì bị đặt ra ngoài chuẩn mực.
- Đối xử với những ngoại lệ, bất thường như những tồn tại khác chứ không phải sai lạc, thứ cấp.
- Đánh thức và nuôi dưỡng tình yêu thương, sự trân trọng đối với những tồn tại khác biệt.
6. Chú ý: Quan điểm của tác giả về nhân vật trong tác phẩm văn học thiếu nhi
- Không nên biến nhân vật thành những nhân vật hoàn hảo.
- Các nhân vật của Nguyễn Nhật Ánh đều không hoàn hảo: Khải đẹp trai nhưng lạm dụng tiểu xảo, có lúc nhỏ nhen; Nga nhân hậu nhưng không sâu sắc; Luận tinh nghịch, vô tâm nhưng cũng biết chạnh lòng…
- Việc miêu tả những lòng tốt đầy giới hạn sẽ khơi gợi sự ngẫm ngợi, giúp hình thành sự tự điều chỉnh, tự giáo dục trong mỗi đứa trẻ.
7. Suy luận: Vì sao tác giả bài nghị luận cho rằng cần phải viết cho trẻ em từ cái nhìn của một người lớn sâu sắc và từng trải?
Tác giả cho rằng cần viết cho trẻ em từ cái nhìn của một người lớn sâu sắc, từng trải vì:
- Qua lăng kính của người lớn đã đi qua bao bể dâu của cuộc đời, tuổi thơ được phát hiện lại, được trục vớt từ những hoài niệm, được chiếu sáng từ những thao thức về giá trị.
- Người lớn sâu sắc, từng trải sẽ tạo nên chiều sâu cho tác phẩm, tránh được sự hồn nhiên giả tạo hoặc xơ cứng giáo điều.
IV. Sau khi đọc – Trả lời câu hỏi
Câu 1: Văn bản bàn luận về vấn đề gì? Theo em, phạm vi của vấn đề bàn luận trong văn bản này có gì khác với văn bản “Người con gái Nam Xương” – một bi kịch của con người?
a) Vấn đề bàn luận: Suy ngẫm về những phẩm chất cần có của một tác phẩm văn học viết cho thiếu nhi, từ việc phân tích truyện dài Thằng quỷ nhỏ của Nguyễn Nhật Ánh.
b) So sánh phạm vi vấn đề:
| Tiêu chí | Văn bản 2 (Từ “Thằng quỷ nhỏ”…) | Văn bản 1 (“Người con gái Nam Xương”…) |
|---|---|---|
| Phạm vi | Rộng hơn | Hẹp hơn |
| Nội dung | Lấy Thằng quỷ nhỏ làm điểm tựa, từ đó bàn rộng ra phẩm chất của tác phẩm văn học viết cho thiếu nhi nói chung | Chủ yếu phân tích bi kịch của con người trong tác phẩm Người con gái Nam Xương |
Câu 2: Xác định các luận điểm chính trong văn bản. Các luận điểm ấy có quan hệ với nhau như thế nào?
Hệ thống luận điểm (3 luận điểm):
- Luận điểm 1: Nhân dạng khác biệt của Quỳnh và thái độ của mọi người đối với nhân dạng ấy.
- Luận điểm 2: Nhân dạng con người là một tạo tác mang tính văn hoá.
- Luận điểm 3: Những phẩm chất cần có của một tác phẩm văn học viết cho thiếu nhi.
Mối quan hệ: Các luận điểm được sắp xếp theo trình tự từ cụ thể đến khái quát, có quan hệ lô-gíc chặt chẽ:
- Luận điểm 1 nhận diện vấn đề nhân dạng qua tác phẩm cụ thể.
- Luận điểm 2 dùng tri thức nhân học lí giải vấn đề nhân dạng, soi tỏ lại tác phẩm.
- Luận điểm 3 từ cơ sở đó đề xuất những phẩm chất cần có của tác phẩm viết cho thiếu nhi.
Câu 3: Đọc phần (1) và cho biết tác giả bài nghị luận đã dùng những lí lẽ, bằng chứng nào để phân tích nhân dạng của Quỳnh và thái độ của các nhân vật khác đối với nhân dạng ấy. Em có nhận xét gì về các lí lẽ và bằng chứng được tác giả sử dụng?
a) Phân tích nhân dạng của Quỳnh:
- Lí lẽ: Chữ “quỷ” trong nhan đề chỉ sự kì dị; những nét kì dị gắn với gương mặt nên trở thành khiếm khuyết không thể che giấu; nhân dạng đã quyết định toàn bộ nhân cách và vị thế của Quỳnh.
- Bằng chứng: hai vành tai to, mỗi khi có tâm trạng lại ve vẩy như cánh bướm; chiếc mũi to, đỏ ửng, lấm tấm mồ hôi.
b) Phân tích thái độ của các nhân vật khác đối với Quỳnh:
- Lí lẽ:
- Trong mắt mọi người, Quỳnh chỉ là một thằng hề để mua vui.
- Mọi người không nhận ra phẩm chất tốt đẹp của Quỳnh (trừ Nga).
- Mọi tình cảm bình thường ở Quỳnh đều trở thành khác thường, kệch cỡm.
- Bằng chứng:
- Câu chuyện về cái bàn chỉ có hai chỗ ngồi với khoảng trống ở giữa (so sánh với Bàn có năm chỗ ngồi).
- Phản ứng và cảm giác của Nga: “Nga bất giác rùng mình”, “Với Khải, Nga ghét. Với Quỳnh, Nga sợ.”
- Trò trêu chọc của Luận.
c) Nhận xét: Lí lẽ và bằng chứng tác giả sử dụng hướng đúng vào trọng tâm vấn đề; bằng chứng được chọn lọc, trích dẫn theo cả hai cách (trực tiếp và gián tiếp); vừa có bằng chứng từ chính tác phẩm, vừa có bằng chứng mở rộng (Bàn có năm chỗ ngồi) làm bài viết thêm phong phú và thuyết phục.
Câu 4: Đọc phần (2) và cho biết tác giả có quan điểm như thế nào về nhân dạng của con người. Em hãy dẫn ra một vài lí lẽ và bằng chứng tiêu biểu trong văn bản giúp làm sáng tỏ quan điểm của tác giả.
a) Quan điểm của tác giả: Nhân dạng con người là một tạo tác mang tính văn hoá, được điều chỉnh bởi những quy chuẩn của cộng đồng.
b) Lí lẽ tiêu biểu:
- Nhân dạng không chỉ là bề ngoài mà được nhào nặn, xét đoán theo các chuẩn mực giá trị.
- Nhân dạng là của riêng cá nhân nhưng được định giá bởi cộng đồng.
- Trong bất kì xã hội nào cũng tồn tại các quy chuẩn, hình thành cặp nhị phân bình thường – bất bình thường.
- Chuẩn mực mang quyền lực và sức mạnh áp đặt.
c) Bằng chứng tiêu biểu:
- Trường hợp chú bé Quỳnh trong Thằng quỷ nhỏ.
- Việc các nhân vật trong truyện cổ tích trút bỏ lốt ngoài kì dị để tìm được sự hài hoà giữa nhân hình và nhân tính.
Câu 5: Trong phần (2), tác giả đã lí giải như thế nào về cách ứng xử của chúng ta trước một nhân dạng đặc biệt? Việc liên tưởng đến truyện cổ tích trong đoạn cuối của phần này có tác dụng gì?
a) Lí giải về cách ứng xử:
“Chúng ta” có những tiêu chuẩn về nhân dạng – những tiêu chuẩn ấy thực chất là một quyền lực mang trong nó hoạt động loại trừ với những gì thuộc về số ít, lệch chuẩn, dị thường. Vì vậy, trước một nhân dạng đặc biệt, “chúng ta” thường có thái độ xa lánh, sợ hãi một cách tự nhiên.
b) Tác dụng của việc liên tưởng đến truyện cổ tích:
- Mở rộng phạm vi bằng chứng (vượt ra ngoài tác phẩm đang bàn luận).
- Tăng sức thuyết phục cho vấn đề bàn luận: ngay cả trong thế giới huyễn tưởng của truyện cổ tích, sự lệch pha giữa nhân hình và nhân tính cũng không được phép tồn tại – nhân vật chính diện phải trút lốt kì dị để tìm sự hài hoà.
Câu 6: Trong phần (3), theo tác giả, một tác phẩm văn học viết cho thiếu nhi cần có những phẩm chất gì? Những câu văn nào giúp em nhận ra điều đó?
Theo tác giả, một tác phẩm văn học viết cho thiếu nhi cần ba phẩm chất sau:
| Phẩm chất | Câu văn tiêu biểu |
|---|---|
| (1) Nhận diện đầy đủ về những gì bị đặt ra ngoài chuẩn mực; đánh thức và nuôi dưỡng tình yêu thương, sự trân trọng với những “tồn tại khác” | “Trước tiên, chúng ta vẫn thường nghĩ, một tác phẩm văn học thiếu nhi phải góp phần hình thành những chuẩn mực văn hoá… Điều này không sai, nhưng có lẽ là chưa đủ. Bởi lẽ, cũng cần nhận diện đầy đủ về những gì đã bị đặt ra ngoài chuẩn mực ấy.” |
| (2) Không nên biến nhân vật trở thành những nhân vật hoàn hảo | “Thứ hai, không nên biến những nhân vật trong các tác phẩm văn học thiếu nhi trở thành những nhân vật hoàn hảo.” |
| (3) Cần viết cho trẻ em từ cái nhìn của một người lớn sâu sắc và từng trải | “Cuối cùng, phải viết cho trẻ em từ cái nhìn của một người lớn sâu sắc và từng trải.” |
Câu 7: Trong đoạn cuối của bài nghị luận, tác giả cho rằng: “phải viết cho trẻ em từ cái nhìn của một người lớn sâu sắc và từng trải”. Em có suy nghĩ gì về quan điểm này?
Câu hỏi mở, em có thể chọn một trong các cách trả lời sau.
- Cách 1: Em đồng tình với quan điểm này. Cái nhìn của một người lớn sâu sắc, từng trải sẽ giúp tác phẩm có chiều sâu, tuổi thơ được phát hiện lại từ những hoài niệm, được chiếu sáng bởi những thao thức về giá trị. Nhờ vậy, tác phẩm không bị hồn nhiên giả tạo hay xơ cứng giáo điều.
- Cách 2: Em đồng tình một phần với quan điểm của tác giả. Quan điểm này có hạt nhân hợp lí: cái nhìn của người lớn sâu sắc, từng trải sẽ giúp tác phẩm có chiều sâu, tránh sự sống sượng, giả tạo. Tuy nhiên, đây chỉ là một góc độ tiếp cận. Nhà văn cũng hoàn toàn có thể viết cho trẻ em từ cái nhìn hồn nhiên, hoá thân thành trẻ thơ – điều đó tuỳ thuộc vào sở trường, tài năng của mỗi nhà văn. Quan trọng nhất là tác phẩm phải vượt qua được giới hạn của sự giáo điều hay hồn nhiên giả tạo để làm rung động trái tim người đọc.
Câu 8: Nhận xét về nghệ thuật viết văn nghị luận của tác giả thể hiện ở văn bản (cách đặt vấn đề, tổ chức luận điểm, cách sử dụng lí lẽ và bằng chứng, ngôn ngữ,…).
- Cách đặt vấn đề: sắc sảo, độc đáo – lựa chọn một tác phẩm cụ thể (Thằng quỷ nhỏ) làm điểm tựa, từ đó đặt vấn đề rộng hơn về phẩm chất của tác phẩm văn học viết cho thiếu nhi.
- Tổ chức luận điểm: Ba luận điểm có sự kết nối lô-gíc, chặt chẽ, sắp xếp từ cụ thể đến khái quát, từ nhận diện → lí giải → đề xuất.
- Cách sử dụng lí lẽ và bằng chứng: Lí lẽ và bằng chứng hướng vào trọng tâm luận điểm; lí lẽ có tính đối thoại với các quan điểm truyền thống; bằng chứng được chọn lọc, trích dẫn theo nhiều cách khác nhau (trực tiếp – gián tiếp), vừa trong tác phẩm vừa ngoài tác phẩm.
- Ngôn ngữ: trong sáng, khúc chiết, vừa mang tính khoa học, vừa giàu sức gợi.
V. Viết kết nối với đọc
“Không nên biến những nhân vật trong các tác phẩm văn học thiếu nhi trở thành những nhân vật hoàn hảo.” (Trần Văn Toàn)
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 7 – 9 câu) chia sẻ suy nghĩ của em về ý kiến trên.
Đoạn văn tham khảo 1:
Em hoàn toàn đồng tình với ý kiến của Trần Văn Toàn: “Không nên biến những nhân vật trong các tác phẩm văn học thiếu nhi trở thành những nhân vật hoàn hảo.” Trên thực tế, không có ai trong cuộc sống là hoàn hảo tuyệt đối, ai cũng có những ưu điểm và khuyết điểm riêng. Vì vậy, nếu nhà văn xây dựng những nhân vật quá hoàn hảo, các em sẽ cảm thấy xa lạ, giả tạo và khó đồng cảm. Trái lại, khi nhân vật được khắc hoạ với cả những điểm yếu, sự nhỏ nhen, vô tâm hay chạnh lòng – như cách Nguyễn Nhật Ánh xây dựng Khải, Nga, Luận trong Thằng quỷ nhỏ – các em sẽ nhận thấy chính mình trong đó và biết tự ngẫm ngợi, tự điều chỉnh. Một nhân vật không hoàn hảo còn giúp tác phẩm tránh được ý đồ giáo dục lộ liễu, khiến bài học trở nên tự nhiên, dễ tiếp nhận hơn. Hơn nữa, những nhân vật có giới hạn còn dạy các em biết yêu thương con người với cả những thiếu sót của họ. Đó là cách giáo dục nhân văn và sâu sắc nhất mà một tác phẩm viết cho thiếu nhi có thể mang lại.
Đoạn văn tham khảo 2:
Ý kiến “Không nên biến những nhân vật trong các tác phẩm văn học thiếu nhi trở thành những nhân vật hoàn hảo” của Trần Văn Toàn là một quan điểm sâu sắc và rất đáng suy ngẫm. Trước hết, những nhân vật hoàn hảo thường mang vẻ lí tưởng hoá, khó gần với đời thực, vì vậy khó tạo được sự đồng cảm thực sự nơi bạn đọc nhỏ tuổi. Trẻ em cần được gặp những nhân vật giống mình – cũng có lúc ích kỉ, vô tâm, sai lầm, để rồi từ đó học cách thấu hiểu chính bản thân và những người xung quanh. Trong Thằng quỷ nhỏ, Nga là người bạn tốt với Quỳnh nhưng vẫn sợ hãi trước ngoại hình khác lạ của cậu – đó là một lòng tốt đầy giới hạn, rất thật, rất đời. Chính những giới hạn ấy buộc người đọc phải soi vào bản thân để tự điều chỉnh. Một nhân vật hoàn hảo có thể nêu gương, nhưng một nhân vật không hoàn hảo lại đánh thức suy ngẫm. Vì vậy, em tin rằng để tác phẩm văn học thiếu nhi thực sự có giá trị, nhà văn cần dám viết về những con người không hoàn hảo – như cách Nguyễn Nhật Ánh đã làm.

Thầy Nguyễn Thái Nhật Luật
(Người kiểm duyệt, ra đề)
Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Ngữ Văn THCS
Trình độ: Cử nhân Sư phạm Ngữ Văn, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ B1
Kinh nghiệm: 8+ năm kinh nghiệm tại THCS Hồng Bàng
