Chọn đến phần học sinh cần nhanh chóng thông qua mục lục bằng cách click đến phần đó
I. Giải bài tập SGK
Câu 1: Nghe kể chuyện.

Bữa ăn trưa
(Phỏng theo Tốt-tô-chan, cô bé bên cửa sổ)
(1) Đã đến giờ ăn trưa. Khi học sinh đã ngồi vào bàn ăn, thầy hiệu trưởng hỏi: “Các em có đem theo món ăn của biển và của đồi núi không?”. “Có ạ!”, tất cả đồng thanh đáp rồi mở hộp đồ ăn trưa mà mẹ đã chuẩn bị từ sáng. “Cái gì đó của biển” tức là hải sản; ví dụ cá, tôm. Cái gì đó của đồi núi là rau, thịt,…
(2) Thầy hiệu trưởng đi xem xét từng hộp ăn trưa. Thầy hỏi từng bạn: “Các em có đem theo món ăn của biển và của đồi núi không?”. Cô nhà bếp đi sau thầy, tay bê khay thức ăn. Nếu thầy dừng lại trước một bạn và nói “biển” thì cô sẽ gắp cho lát cá. Nếu thầy nói “đồi núi” thì cô sẽ gắp thịt hoặc rau.
(3) Bữa trưa hôm nay của Chi có trứng rán, ruốc cá, su hào luộc cùng cà rốt. Trông sặc sỡ như một vườn hoa. Thầy hiệu trưởng nói: “Đẹp đấy!”. Chi thích lắm.
“Mẹ em nấu ăn giỏi lắm ạ”. Chi tự hào nói.
“Vậy à?”, thầy chỉ tay vào món ruốc và hỏi, “Thế món này là gì nhỉ? Món này là của biển hay của đồi núi?”.
Chi đoán là của đồi núi nhưng em không chắc lắm bèn đáp: “Em không biết ạ”.
Thầy cười và nói: Ruốc cá là từ biển mà ra. Rồi thầy giải thích cách làm ruốc cá.
(4) Cả lớp ồ lên. Còn Chi thấy rất vui khi biết đồ ăn của mình đã thoả mãn hai yêu cầu biển và đồi núi. Thế là em ăn luôn và thấy thức ăn mẹ làm ngon tuyệt.
(Phỏng theo Tốt-tô-chan, cô bé bên cửa sổ)
Gợi ý nội dung theo tranh:
- Tranh 1: Đến giờ ăn trưa, thầy hiệu trưởng hỏi các bạn có đem theo món ăn của biển và của đồi núi không.
- Tranh 2: Thầy đi xem từng hộp cơm, cô nhà bếp đi sau gắp thêm cá (món “biển”) hoặc thịt, rau (món “đồi núi”) cho các bạn.
- Tranh 3: Thầy hỏi Chi món ruốc là của biển hay của đồi núi; Chi chưa chắc nên đáp “Em không biết ạ”.
- Tranh 4: Thầy giải thích ruốc cá là từ biển; cả lớp ồ lên, còn Chi vui vẻ ăn bữa trưa ngon lành.
Câu 2: Chọn kể 1 – 2 đoạn của câu chuyện theo tranh.
Bài kể mẫu (đoạn 1 và 2 – theo tranh 1, 2): Đã đến giờ ăn trưa. Khi các bạn ngồi vào bàn, thầy hiệu trưởng hỏi: “Các em có đem theo món ăn của biển và của đồi núi không?”. Cả lớp đồng thanh đáp “Có ạ!” rồi mở hộp cơm mẹ chuẩn bị. Thầy đi xem từng hộp, cô nhà bếp đi sau: bạn nào có món “biển” thì cô gắp thêm cá, bạn nào có món “đồi núi” thì cô gắp thêm thịt hoặc rau.
II. Vận dụng
Chọn a hoặc b:
a. Kể cho người thân về giờ ăn trưa ở lớp em.
b. Kể cho bạn về bữa ăn trưa của em.
Bài kể mẫu a (giờ ăn trưa ở lớp): Giờ ăn trưa ở lớp em rất vui. Chúng em cùng nhau ăn cơm tại lớp, món ăn có đủ cả cá, thịt và rau nên vừa ngon vừa đủ chất. Ăn xong, chúng em tự dọn bàn ăn gọn gàng, sạch sẽ.
Bài kể mẫu b (bữa ăn trưa của em): Bữa trưa hôm nay của em có cơm, cá rán, canh rau và một quả chuối tráng miệng. Em thích nhất là món cá rán mẹ làm. Em ăn hết suất của mình và thấy rất ngon.

Cô Trịnh Thị Ái Ngọc
(Người kiểm duyệt, ra đề)
Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Tiếng Việt Tiểu học
Trình độ: Cử nhân Sư phạm Tiểu học, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ B1
Kinh nghiệm: 9+ năm kinh nghiệm tại Trường Tiểu học Ba Đình
