Chọn đến phần học sinh cần nhanh chóng thông qua mục lục bằng cách click đến phần đó
Câu hỏi mở đầu trang 28
Đề bài: Trái Đất là hành tinh có kích thước đủ lớn giữ được bầu khí quyển bao quanh. Tất cả các yếu tố khí hậu như nhiệt độ, khí áp, gió, mưa,… diễn ra trong khí quyển đều có những quy luật riêng, đồng thời có mối liên hệ và tác động lẫn nhau, tạo nên sự đa dạng, phức tạp của khí hậu Trái Đất. Các yếu tố khí hậu diễn ra như thế nào trong khí quyển?
Lời giải:
Trong khí quyển, các yếu tố khí hậu diễn ra như sau:
- Nhiệt độ không khí: thay đổi theo vĩ độ, theo lục địa và đại dương, theo địa hình.
- Khí áp: thay đổi theo nhiệt độ, độ cao, độ ẩm,… và phân bố thành các đai khí áp đối xứng qua Xích đạo.
- Gió: có nhiều loại gió chính (gió Mậu dịch, gió Tây ôn đới, gió Đông cực, gió mùa) và các loại gió địa phương (gió đất, gió biển, gió phơn).
- Mưa: chịu ảnh hưởng của khí áp, frông, gió, dòng biển, địa hình; phân bố không đều theo vĩ độ và theo khu vực.
2. Nhiệt độ không khí
Câu hỏi trang 29 (Nhiệt độ phân bố theo vĩ độ)
Đề bài: Dựa vào thông tin trong mục a và bảng 9, hãy nhận xét về sự thay đổi nhiệt độ trung bình năm và biên độ nhiệt độ năm theo vĩ độ ở bán cầu Bắc.
Lời giải:
Từ bảng 9, ta có nhận xét sau:
a) Nhiệt độ trung bình năm:
- Cao nhất ở khu vực vĩ độ 20° (25,0°C), không phải ở Xích đạo.
- Giảm dần từ vùng vĩ độ thấp về vùng vĩ độ cao (từ 25,0°C ở vĩ độ 20° xuống còn –10,4°C ở vĩ độ 70°).
b) Biên độ nhiệt độ năm:
- Tăng dần từ Xích đạo về cực (từ 1,8°C ở vĩ độ 0° lên đến 32,2°C ở vĩ độ 70°).
→ Nhiệt độ trung bình năm có xu hướng giảm dần, còn biên độ nhiệt độ năm có xu hướng tăng dần từ Xích đạo về cực.
Câu hỏi trang 30 (Nhiệt độ phân bố theo lục địa và đại dương)
Đề bài: Dựa vào thông tin mục b và hình 9.2, nhận xét và giải thích sự thay đổi của biên độ nhiệt độ ở các địa điểm nằm trên khoảng vĩ tuyến 52°B.

Lời giải:
a) Nhận xét:
Các địa điểm cùng nằm trên vĩ tuyến 52°B nhưng có biên độ nhiệt độ năm khác nhau:
- Va-len-ti-a: 9°C (gần đại dương nhất).
- Pô-dơ-nan: 21°C.
- Vác-sa-va: 23°C.
- Cuốc-xcơ: 29°C (nằm sâu trong lục địa nhất).
→ Biên độ nhiệt độ năm tăng dần từ tây sang đông, tức là từ vùng ven đại dương vào sâu trong lục địa.
b) Giải thích:
- Bề mặt đất hấp thụ nhiệt nhanh hơn và toả nhiệt cũng nhanh hơn bề mặt nước.
- Các địa điểm nằm gần đại dương chịu ảnh hưởng điều hoà của biển → biên độ nhiệt nhỏ.
- Các địa điểm nằm sâu trong lục địa không có biển điều hoà → mùa hạ rất nóng, mùa đông rất lạnh → biên độ nhiệt lớn.
Câu hỏi trang 30 (Nhiệt độ phân bố theo địa hình)
Đề bài: Đọc thông tin trong mục c và hình 9.3, trình bày sự thay đổi nhiệt độ không khí theo địa hình.

Lời giải:
Sự thay đổi nhiệt độ không khí theo địa hình:
- Theo độ cao: Nhiệt độ không khí trong tầng đối lưu giảm dần theo độ cao, trung bình giảm 0,6°C khi độ cao tăng lên 100 m.
- Theo độ dốc và hướng phơi của sườn núi: Nhiệt độ thay đổi do liên quan đến góc chiếu của tia sáng mặt trời tới bề mặt đất.
- Sườn có góc chiếu lớn (tia sáng vuông góc hơn) → nhận được nhiều bức xạ → nhiệt độ cao.
- Sườn có góc chiếu nhỏ (tia sáng xiên hơn) → nhận được ít bức xạ → nhiệt độ thấp.
3. Khí áp và gió
Câu hỏi trang 31 (Khí áp)
Đề bài: Dựa vào thông tin và hình trong mục a, hãy:
- Nêu các nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi khí áp trên Trái Đất.
- Trình bày sự hình thành các đai khí áp trên Trái Đất.
Lời giải:
a) Các nguyên nhân làm thay đổi khí áp:
- Theo nhiệt độ: nhiệt độ cao → không khí nở ra, tỉ trọng giảm → khí áp giảm; ngược lại, nhiệt độ giảm → không khí co lại, tỉ trọng tăng → khí áp tăng.
- Theo độ cao: càng lên cao, không khí càng loãng, sức nén càng nhỏ → khí áp giảm.
- Theo độ ẩm: không khí ẩm nhẹ hơn không khí khô → khí áp giảm; ngược lại, không khí khô thì khí áp tăng.
- Ngoài ra, khí áp còn thay đổi theo thành phần không khí.
b) Sự hình thành các đai khí áp trên Trái Đất:
Các đai khí áp cao và thấp phân bố xen kẽ và đối xứng qua đai áp thấp Xích đạo:
- Đai áp thấp Xích đạo (nguyên nhân nhiệt lực): do nhiệt độ cao quanh năm, hơi nước bốc lên mạnh, sức nén không khí giảm.
- Các đai áp cao cận chí tuyến (nguyên nhân động lực): không khí từ Xích đạo bốc lên, di chuyển về chí tuyến và dồn xuống → sức nén tăng.
- Các đai áp thấp ôn đới (nguyên nhân động lực): không khí từ áp cao cận chí tuyến và áp cao cực di chuyển về ôn đới, gặp nhau và bốc lên cao → sức nén giảm.
- Các đai áp cao cực (nguyên nhân nhiệt lực): do nhiệt độ rất thấp ở hai cực, sức nén không khí tăng.
→ Tuy nhiên, các đai khí áp trên Trái Đất không liên tục mà bị chia cắt thành các trung tâm khí áp riêng biệt do sự phân bố xen kẽ giữa lục địa và đại dương.
Câu hỏi trang 33 (Gió)
Đề bài: Dựa vào thông tin và các hình trong mục b, hãy trình bày một số loại gió chính trên Trái Đất và gió địa phương.
Lời giải:
a) Một số loại gió chính trên Trái Đất:
- Gió Mậu dịch (Tín phong):
- Thổi từ đai áp cao cận chí tuyến về đai áp thấp Xích đạo.
- Hướng: đông bắc ở bán cầu Bắc, đông nam ở bán cầu Nam.
- Tính chất: tương đối ổn định quanh năm, nói chung là khô.
- Gió Tây ôn đới:
- Thổi quanh năm từ đai áp cao cận chí tuyến về đai áp thấp ôn đới.
- Hướng: tây nam ở bán cầu Bắc, tây bắc ở bán cầu Nam.
- Tính chất: độ ẩm cao, gây mưa.
- Gió Đông cực:
- Thổi từ vùng áp cao cực về đai áp thấp ôn đới.
- Hướng: đông bắc ở bán cầu Bắc, đông nam ở bán cầu Nam.
- Tính chất: rất lạnh và khô.
- Gió mùa:
- Thổi theo mùa, hướng và tính chất gió ở hai mùa trái ngược nhau.
- Nguyên nhân: chủ yếu do sự nóng lên hay lạnh đi không đều giữa lục địa và đại dương (gió mùa ngoại chí tuyến) hoặc giữa hai bán cầu (gió mùa nội chí tuyến).
- Phân bố: chủ yếu ở đới nóng như Nam Á, Đông Nam Á, Đông Phi, Đông Bắc Ô-xtrây-li-a,…
b) Gió địa phương:
- Gió đất và gió biển:
- Hình thành ở vùng ven biển, đổi hướng theo đêm và ngày.
- Nguyên nhân: sự nóng lên và lạnh đi không đều giữa đất liền và biển.
- Gió phơn:
- Là loại gió vượt núi.
- Sườn đón gió: nhiệt độ giảm, hơi nước ngưng tụ → gây mưa.
- Sườn khuất gió: hơi nước đã giảm, nhiệt độ tăng lên → trở thành gió khô và nóng.
4. Mưa
Câu hỏi trang 33 (Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng mưa)
Đề bài: Dựa vào thông tin trong mục a, hãy phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến lượng mưa.
Lời giải:
Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng mưa gồm:
- Khí áp:
- Vùng áp thấp: hút gió và đẩy không khí ẩm lên cao sinh ra mây → mưa nhiều (như vùng Xích đạo).
- Vùng áp cao: không khí bị nén xuống, không bốc lên cao được → mưa ít (như vùng cực, vùng chí tuyến).
- Frông: dọc các frông nóng hay lạnh, không khí nóng bốc lên trên không khí lạnh, bị lạnh đi → gây mưa. Miền có frông hay dải hội tụ nhiệt đới đi qua thường có mưa nhiều.
- Gió:
- Vùng sâu trong lục địa, không có gió từ đại dương thổi vào → mưa rất ít.
- Vùng có gió Mậu dịch hoạt động → mưa ít (vì gió khô).
- Vùng có gió mùa hoạt động → mưa nhiều.
- Dòng biển: cùng nằm ven bờ đại dương, nhưng:
- Nơi có dòng biển nóng chảy qua → mưa nhiều.
- Nơi có dòng biển lạnh chảy qua → mưa ít.
- Địa hình:
- Cùng một sườn núi đón gió: càng lên cao nhiệt độ càng giảm → càng mưa nhiều, đến độ cao nào đó độ ẩm giảm sẽ không còn mưa.
- Cùng một dãy núi: sườn đón gió mưa nhiều, sườn khuất gió mưa ít và khô ráo.
Câu hỏi trang 34 (Phân bố mưa)
Đề bài: Dựa vào thông tin trong mục b và hình 9.7, hãy nhận xét về sự phân bố lượng mưa trên Trái Đất.
Lời giải:
Nhận xét về sự phân bố lượng mưa trên Trái Đất:
- Lượng mưa phân bố không đều theo vĩ độ, có sự xen kẽ giữa các vùng mưa nhiều và các vùng mưa ít:
- Mưa nhiều nhất ở vùng Xích đạo.
- Mưa tương đối ít ở hai vùng chí tuyến.
- Mưa nhiều ở hai vùng ôn đới.
- Mưa rất ít ở hai vùng cực.
- Theo chiều đông – tây, lượng mưa cũng có sự phân hoá thành các khu vực mưa khác nhau, do tác động của địa hình, dòng biển, vị trí gần biển hay xa biển,…
Luyện tập – Vận dụng
Luyện tập 1 trang 34
Đề bài: Trình bày đặc điểm phân bố nhiệt độ trên Trái Đất.
Lời giải:
Đặc điểm phân bố nhiệt độ trên Trái Đất:
a) Theo vĩ độ:
- Nhiệt độ trung bình năm giảm dần từ Xích đạo về cực.
- Biên độ nhiệt độ năm tăng dần từ Xích đạo về cực.
b) Theo lục địa và đại dương:
- Vào mùa hạ, lục địa có nhiệt độ cao hơn đại dương; vào mùa đông, lục địa có nhiệt độ thấp hơn đại dương.
- Các địa điểm nằm sâu trong lục địa có biên độ nhiệt lớn hơn các địa điểm nằm gần đại dương.
- Nhiệt độ không khí còn thay đổi theo bờ đông và bờ tây lục địa, do ảnh hưởng của các dòng biển nóng, lạnh.
c) Theo địa hình:
- Nhiệt độ trong tầng đối lưu giảm dần theo độ cao (trung bình 0,6°C/100 m).
- Nhiệt độ còn thay đổi theo độ dốc và hướng phơi của sườn núi.
Luyện tập 2 trang 34
Đề bài: Sự hình thành các đai khí áp và các đới gió có liên quan gì với nhau?
Lời giải:
Sự hình thành các đai khí áp và các đới gió có mối quan hệ chặt chẽ với nhau:
- Gió là sự chuyển động của không khí từ nơi có khí áp cao đến nơi có khí áp thấp.
- Do đó, mỗi đới gió đều thổi từ đai áp cao về đai áp thấp gần nhất:
- Gió Mậu dịch: thổi từ đai áp cao cận chí tuyến về đai áp thấp Xích đạo.
- Gió Tây ôn đới: thổi từ đai áp cao cận chí tuyến về đai áp thấp ôn đới.
- Gió Đông cực: thổi từ đai áp cao cực về đai áp thấp ôn đới.
→ Như vậy, các đai khí áp là nguyên nhân hình thành các đới gió thường xuyên trên Trái Đất.
Vận dụng trang 34
Đề bài: Chọn một trong hai nhiệm vụ sau:
- Dựa vào kiến thức đã học, hãy giải thích hiện tượng thời tiết trong câu thơ sau của nhà thơ Thuý Bắc: “Trường Sơn Đông / Trường Sơn Tây / Bên nắng đốt / Bên mưa quây…”
- Tại sao vào mùa nóng bức, người dân ở vùng đồng bằng và các đô thị rất thích đi du lịch, nghỉ dưỡng ở Sa Pa và Đà Lạt?
Lời giải:
Nhiệm vụ 1: Giải thích câu thơ về Trường Sơn
Câu thơ phản ánh hiện tượng gió phơn vượt qua dãy Trường Sơn:
- Vào mùa hạ, gió mùa Tây Nam mang hơi ẩm thổi từ vịnh Thái Lan, vượt qua dãy Trường Sơn:
- Sườn Tây Trường Sơn (đón gió): không khí ẩm bốc lên cao, nhiệt độ giảm, hơi nước ngưng tụ → gây mưa nhiều (“mưa quây”).
- Sườn Đông Trường Sơn (khuất gió): không khí sau khi mất hơi ẩm, nhiệt độ tăng → trở thành gió khô và nóng (“nắng đốt”).
→ Đây chính là hiện tượng gió phơn Tây Nam (gió Lào) – đặc trưng của các tỉnh miền Trung Việt Nam vào mùa hạ.
Nhiệm vụ 2: Du lịch Sa Pa và Đà Lạt vào mùa nóng
- Sa Pa và Đà Lạt là hai địa điểm du lịch nổi tiếng nằm ở vùng núi cao của Việt Nam (đều nằm ở độ cao khoảng 1 500 m).
- Theo quy luật, nhiệt độ không khí giảm dần theo độ cao (trung bình giảm 0,6°C khi độ cao tăng 100 m). Do đó, ở độ cao 1 500 m, nhiệt độ thấp hơn so với vùng đồng bằng khoảng 9°C.
- Vào mùa nóng bức, trong khi vùng đồng bằng và đô thị có nhiệt độ rất cao thì Sa Pa và Đà Lạt vẫn mát mẻ, dễ chịu.
→ Đó là lý do người dân ở vùng đồng bằng và đô thị rất thích đi du lịch, nghỉ dưỡng ở Sa Pa và Đà Lạt vào mùa nóng bức.

ThS. Trần Ngọc Báu
(Người kiểm duyệt, ra đề)
Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Địa Lí THPT
Trình độ: Thạc sĩ Địa lý, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ GIS, Ngoại ngữ B1
Kinh nghiệm: 11+ năm kinh nghiệm tại Trường THPT Cầu Giấy
