Chọn đến phần học sinh cần nhanh chóng thông qua mục lục bằng cách click đến phần đó
Dưới đây là bài báo cáo thực hành tham khảo cho Bài 32 (trang 162). Các em có thể dựa vào bài này để hoàn thiện báo cáo thực hành của nhóm mình.
BÁO CÁO: BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Mở đầu
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng đất thấp, bằng phẳng nằm ở hạ lưu sông Mê Công, có vai trò đặc biệt quan trọng đối với an ninh lương thực của cả nước. Tuy nhiên, đây cũng là vùng chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu (BĐKH) ở Việt Nam. BĐKH đang tác động sâu sắc đến tự nhiên, kinh tế và đời sống của gần 21 triệu dân trong vùng, đặt ra yêu cầu cấp thiết về các giải pháp ứng phó.
1. Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu ở Đồng bằng sông Cửu Long
a) Ảnh hưởng đến tự nhiên
BĐKH gây ra nhiều tác động tiêu cực đến tự nhiên của vùng:
- Nước biển dâng: theo kịch bản của Bộ Tài nguyên và Môi trường, nếu mực nước biển dâng 1 m, khoảng 47,29% diện tích ĐBSCL sẽ bị ngập; các tỉnh chịu ảnh hưởng lớn nhất là Cà Mau, Sóc Trăng, Kiên Giang, Bạc Liêu (theo tên hành chính trước sáp nhập).
- Xâm nhập mặn ngày càng nghiêm trọng: ranh giới độ mặn 4‰ vào sâu 50 – 55 km theo sông Tiền và khoảng 40 km theo sông Hậu; nhiều sông chính và kênh nhánh bị nhiễm mặn sớm hơn và sâu hơn trong nội đồng.
- Hạn hán, thiếu nước ngọt: mùa khô kéo dài, lượng mưa giảm; kết hợp với việc các quốc gia thượng nguồn sông Mê Công khai thác nước làm mất cân bằng nguồn nước.
- Sạt lở bờ sông, bờ biển: do mất cân bằng bùn cát, sóng gió và nước dâng.
- Sụt lún đất: do khai thác nước ngầm quá mức, kết hợp với nước biển dâng làm tăng nguy cơ ngập lụt.
- Suy giảm hệ sinh thái: rừng ngập mặn, rừng tràm bị thu hẹp; đa dạng sinh học suy giảm.
b) Ảnh hưởng đến các hoạt động kinh tế
- Nông nghiệp:
- Đất nhiễm mặn không thể canh tác → giảm năng suất, chất lượng lúa và cây ăn quả; nguy cơ mất mùa cao.
- Dự báo đến năm 2050, khoảng 45% diện tích ĐBSCL có nguy cơ bị nhiễm mặn.
- Ảnh hưởng đến vựa lúa cung cấp 55% sản lượng gạo và 90% lượng gạo xuất khẩu của cả nước.
- Thuỷ sản: đột biến độ mặn, nhiệt độ nước tăng → tôm, cá chết; môi trường nuôi trồng bị xáo trộn.
- Công nghiệp và cơ sở hạ tầng: sạt lở, ngập lụt gây hư hỏng nhà xưởng, đường giao thông, cầu cống,…
- Du lịch: cảnh quan sông nước, miệt vườn bị ảnh hưởng do hạn mặn, sạt lở → giảm sức hấp dẫn với du khách.
c) Ảnh hưởng đến sinh hoạt của dân cư
- Thiếu nước ngọt cho sinh hoạt: mùa khô 2023 – 2024, hàng chục nghìn hộ dân trong vùng bị thiếu nước sinh hoạt trầm trọng.
- Di dân, mất sinh kế: nhiều hộ dân phải di chuyển do mất đất, mất mùa, sạt lở.
- Sức khoẻ: gia tăng các bệnh liên quan đến nước, nhiệt độ cao, nắng nóng.
- Chất lượng cuộc sống giảm sút ở các vùng nông thôn ven biển.
2. Giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu ở Đồng bằng sông Cửu Long
a) Giải pháp giảm nhẹ biến đổi khí hậu
Các giải pháp giảm nhẹ tập trung vào việc giảm phát thải khí nhà kính – nguyên nhân chính gây BĐKH:
- Phát triển năng lượng tái tạo: điện mặt trời, điện gió (tận dụng lợi thế khí hậu của vùng).
- Trồng và bảo vệ rừng, đặc biệt là rừng ngập mặn ven biển và rừng tràm (Vườn quốc gia Tràm Chim, U Minh Thượng, U Minh Hạ,…) – vừa hấp thụ CO₂, vừa bảo vệ bờ biển.
- Phát triển nông nghiệp phát thải thấp: triển khai đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh đến năm 2030.
- Chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng xanh, tuần hoàn; ứng dụng công nghệ tiết kiệm năng lượng.
b) Giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu
Đây là nhóm giải pháp quan trọng nhất với ĐBSCL, theo tinh thần “thuận thiên” của Nghị quyết 120/NQ-CP (2017) về phát triển bền vững vùng ĐBSCL thích ứng với BĐKH:
- Về công trình:
- Hiện đại hoá hệ thống thuỷ lợi: xây dựng công trình kiểm soát mặn, trữ nước ngọt, tiêu thoát và điều tiết lũ.
- Xây dựng đê biển, kè chống sạt lở ở các khu vực xung yếu.
- Đầu tư hạ tầng giao thông liên kết vùng, chống ngập lụt.
- Về sản xuất:
- Chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi thích ứng với hạn – mặn: giống lúa chịu mặn, mô hình lúa – tôm, cây ăn quả chịu hạn.
- Áp dụng công nghệ sinh học, công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản.
- Phát triển các mô hình sinh kế bền vững phù hợp với từng vùng sinh thái.
- Về dân cư và cộng đồng:
- Sắp xếp dân cư, xây dựng các tuyến dân cư và nhà ở vùng ngập lũ; di dời khỏi vùng nguy cơ cao.
- Nâng cao nhận thức của người dân về BĐKH và các biện pháp ứng phó.
- Cung cấp nước sạch, đảm bảo an sinh xã hội cho vùng ảnh hưởng.
- Về khoa học – công nghệ và hợp tác:
- Ứng dụng công nghệ dự báo, cảnh báo thời tiết cực đoan, hạn – mặn.
- Tăng cường hợp tác quốc tế, đặc biệt với các nước thượng nguồn sông Mê Công trong việc quản lí và sử dụng nguồn nước.
- Giảm khai thác nước ngầm để hạn chế sụt lún đất.
Kết luận
Biến đổi khí hậu đang là thách thức lớn nhất đối với sự phát triển bền vững của Đồng bằng sông Cửu Long. Tác động của BĐKH ảnh hưởng toàn diện đến tự nhiên, kinh tế và đời sống của người dân. Để ứng phó hiệu quả, cần thực hiện đồng bộ cả các giải pháp giảm nhẹ và giải pháp thích ứng, kết hợp giữa công trình – phi công trình, giữa nhà nước – người dân – doanh nghiệp; đồng thời phát huy tinh thần “thuận thiên” trong phát triển vùng, hướng tới một ĐBSCL an toàn, thịnh vượng và bền vững.

ThS. Trần Ngọc Báu
(Người kiểm duyệt, ra đề)
Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Địa Lí THPT
Trình độ: Thạc sĩ Địa lý, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ GIS, Ngoại ngữ B1
Kinh nghiệm: 11+ năm kinh nghiệm tại Trường THPT Cầu Giấy
