Chọn đến phần học sinh cần nhanh chóng thông qua mục lục bằng cách click đến phần đó
- BÁO CÁO: TUYÊN TRUYỀN VỀ CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM ĐỐI VỚI QUẦN ĐẢO HOÀNG SA VÀ QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA
- 1. Vị trí và tầm quan trọng của quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
- 2. Cơ sở lịch sử khẳng định chủ quyền của Việt Nam
- 3. Cơ sở pháp lý khẳng định chủ quyền của Việt Nam
- 4. Việt Nam thực thi chủ quyền như thế nào?
- 5. Trách nhiệm bảo vệ chủ quyền biển, đảo
- Kết luận
Dưới đây là bài báo cáo thực hành tham khảo cho Bài 34 (trang 171). Các em có thể dựa vào bài này để hoàn thiện báo cáo tuyên truyền của nhóm mình.
Bài này SGK gợi ý 2 lựa chọn nội dung. Ở đây thầy chọn Nội dung 1: Tuyên truyền về chủ quyền của Việt Nam ở quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa để làm mẫu.
BÁO CÁO: TUYÊN TRUYỀN VỀ CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM ĐỐI VỚI QUẦN ĐẢO HOÀNG SA VÀ QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA
Mở đầu
Biển đảo là một phần máu thịt thiêng liêng của Tổ quốc Việt Nam. Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa không chỉ có ý nghĩa quan trọng về kinh tế, quốc phòng, mà còn là biểu tượng chủ quyền quốc gia trên Biển Đông. Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi đối với hai quần đảo này. Báo cáo dưới đây nhằm nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm của mỗi công dân trong việc bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.
1. Vị trí và tầm quan trọng của quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
Vị trí địa lí:
- Quần đảo Hoàng Sa: thuộc thành phố Đà Nẵng, nằm ở khu vực phía bắc Biển Đông.
- Quần đảo Trường Sa: thuộc tỉnh Khánh Hoà, nằm ở khu vực phía nam Biển Đông.
Tầm quan trọng:
- Về kinh tế: giàu tài nguyên hải sản, khoáng sản (dầu khí, băng cháy,…); nằm trên tuyến hàng hải quốc tế quan trọng.
- Về quốc phòng, an ninh: là phên giậu tiền tiêu của Tổ quốc trên Biển Đông; có vị trí chiến lược trong bảo vệ chủ quyền vùng biển và đất liền.
- Về khoa học: là địa bàn nghiên cứu về hải dương học, sinh học biển, tài nguyên thiên nhiên.
2. Cơ sở lịch sử khẳng định chủ quyền của Việt Nam
Từ nhiều thế kỉ trước, các nhà nước Việt Nam đã khai phá, xác lập và thực thi chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa một cách liên tục, hoà bình:
- Thời chúa Nguyễn (thế kỉ XVII – XVIII): thành lập Đội Hoàng Sa và Đội Bắc Hải để khai thác sản vật, đo đạc thuỷ trình và thực thi chủ quyền trên hai quần đảo.
- Thời triều Nguyễn (thế kỉ XIX):
- Các Châu bản triều Nguyễn từ triều Minh Mạng (1820 – 1841) đến triều Bảo Đại (1926 – 1945) ghi lại đầy đủ quá trình xác lập và bảo vệ chủ quyền.
- Các bản đồ Việt Nam thời phong kiến (thế kỉ XVI – XIX) đều ghi nhận Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ Việt Nam.
- Thời Pháp thuộc: người Pháp (đại diện Nhà nước Việt Nam) tiếp tục quản lí và thực thi chủ quyền, dựng cột mốc chủ quyền tại Hoàng Sa năm 1816 với dòng chữ “Cộng hoà Pháp – Đế chế An Nam – Quần đảo Hoàng Sa”.
- Từ năm 1975 đến nay: Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam kế thừa và tiếp tục thực thi chủ quyền đối với hai quần đảo một cách liên tục.
- Bằng chứng đối chiếu: các bản đồ do Trung Quốc xuất bản trong lịch sử (từ thế kỉ XVI đến đầu thế kỉ XX) đều không ghi nhận Hoàng Sa và Trường Sa thuộc lãnh thổ Trung Quốc – biên giới cực nam của Trung Quốc chỉ đến đảo Hải Nam.
3. Cơ sở pháp lý khẳng định chủ quyền của Việt Nam
Chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa được khẳng định trên cơ sở:
- Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982): Việt Nam là thành viên và tuân thủ đầy đủ các quy định của Công ước về quyền chủ quyền và quyền tài phán trên biển.
- Luật Biển Việt Nam 2012 (Luật số 18/2012/QH13 ngày 21/6/2012): khẳng định:
- Quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền Việt Nam.
- Quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam.
- Xác định rõ 5 vùng biển: nội thuỷ, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.
- Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khẳng định biển, đảo là một bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ quốc gia.
- Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) năm 2002 và tiến trình đàm phán Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) trên cơ sở luật pháp quốc tế.
4. Việt Nam thực thi chủ quyền như thế nào?
- Về hành chính: Hoàng Sa thuộc TP Đà Nẵng, Trường Sa thuộc tỉnh Khánh Hoà; có cấp chính quyền quản lí.
- Về dân cư và kinh tế: trên các đảo thuộc quần đảo Trường Sa có cư dân sinh sống, hoạt động đánh bắt hải sản, dịch vụ hậu cần nghề cá, phát triển năng lượng tái tạo (điện gió, điện mặt trời).
- Về quốc phòng: lực lượng Hải quân, Cảnh sát biển, Kiểm ngư và Bộ đội Biên phòng thường xuyên tuần tra, bảo vệ vùng biển, đảo.
- Về đối ngoại: kiên trì đấu tranh bằng biện pháp hoà bình, thông qua các diễn đàn quốc tế và song phương, phù hợp với luật pháp quốc tế.
5. Trách nhiệm bảo vệ chủ quyền biển, đảo
Bảo vệ chủ quyền biển, đảo là trách nhiệm chung của toàn dân, đặc biệt là thế hệ trẻ:
Đối với Nhà nước:
- Hoàn thiện hệ thống pháp luật về biển, đảo.
- Đầu tư phát triển kinh tế biển kết hợp với củng cố quốc phòng.
- Tăng cường lực lượng chấp pháp trên biển.
- Đẩy mạnh hợp tác quốc tế, duy trì môi trường hoà bình.
Đối với công dân, đặc biệt là học sinh:
- Tìm hiểu, học tập về lịch sử, địa lí biển đảo Việt Nam.
- Tuyên truyền đến người thân, bạn bè về chủ quyền biển, đảo.
- Không chia sẻ các thông tin sai lệch, xuyên tạc về chủ quyền.
- Tham gia các hoạt động hướng về biển đảo (chương trình “Vì Trường Sa thân yêu”, “Góp đá xây Trường Sa”,…).
- Sử dụng bản đồ Việt Nam có đầy đủ Hoàng Sa và Trường Sa trong học tập và công việc.
- Nỗ lực học tập, rèn luyện để đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Kết luận
Hoàng Sa và Trường Sa là một phần lãnh thổ thiêng liêng, không thể tách rời của Việt Nam. Với đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý, Việt Nam khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi đối với hai quần đảo này. Việc bảo vệ chủ quyền biển, đảo không chỉ là nhiệm vụ của Nhà nước mà còn là trách nhiệm của mỗi công dân Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ – những người kế tục sự nghiệp bảo vệ và phát triển đất nước.
Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Ngày trước ta chỉ có đêm và rừng. Ngày nay ta có ngày, có trời, có biển. Bờ biển ta dài, tươi đẹp, ta phải biết giữ gìn lấy nó.”

ThS. Trần Ngọc Báu
(Người kiểm duyệt, ra đề)
Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Địa Lí THPT
Trình độ: Thạc sĩ Địa lý, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ GIS, Ngoại ngữ B1
Kinh nghiệm: 11+ năm kinh nghiệm tại Trường THPT Cầu Giấy
