Ôn tập học kì 1 (Luyện tập và vận dụng) – Ngữ văn 11 tập 1

Mục lục [Ẩn]

Chọn đến phần học sinh cần nhanh chóng thông qua mục lục bằng cách click đến phần đó

I. ĐỌC – Bài thơ Huyền diệu (Xuân Diệu)

Câu 1: Bạn hiểu như thế nào về nhan đề của bài thơ? Nhan đề ấy có ý nghĩa định hướng việc đọc tác phẩm như thế nào?

  • “Huyền diệu” là từ chỉ những điều kì lạ, sâu xa, khó nắm bắt, mang vẻ đẹp bí ẩn, mê hoặc – vượt qua sự nhận thức thông thường của con người.
  • Nhan đề gợi mở thế giới nghệ thuật đặc biệt của bài thơ: một thế giới không thể cảm nhận bằng lí trí thông thường, mà phải bằng trực giác, bằng sự hoà điệu của tâm hồn.
  • Định hướng việc đọc: người đọc cần mở rộng các giác quan, để tâm hồn thả lỏng, đón nhận những rung động tinh vi, những liên tưởng bất ngờ – không truy tìm nghĩa cụ thể mà cảm nhận bằng cảm xúc, bằng trí tưởng tượng.

Câu 2: Việc chọn câu thơ của Bô-đơ-le làm đề từ có ý nghĩa gì?

  • Câu thơ “Les parfums, les couleurs et les sons se répondent” nghĩa là “Hương thơm, màu sắc, âm thanh tương ứng (hoà hợp) với nhau” – trích từ bài thơ Tương giao của Bô-đơ-le – một câu thơ nổi tiếng được coi như tuyên ngôn của thơ tượng trưng phương Tây.
  • Ý nghĩa:
    • Định hướng tư tưởng nghệ thuật của bài thơ: ca ngợi sự tương giao, hoà điệu giữa các giác quan, giữa các yếu tố tưởng chừng tách biệt (hương – màu – tiếng).
    • Khẳng định ảnh hưởng của thơ tượng trưng Pháp đối với Xuân Diệu và phong trào Thơ mới – đồng thời cho thấy khát vọng hội nhập với thơ ca thế giới của các nhà Thơ mới.
    • Mời gọi người đọc bước vào một thế giới nghệ thuật mới lạ, đầy tinh tế, nơi các giác quan giao thoa, hoà trộn cùng nhau.

Câu 3: Nêu ấn tượng bao trùm về bài thơ và lí giải nguyên nhân đưa đến ấn tượng ấy

Câu hỏi mở, em có thể chọn một trong các cách sau.

  • Cách 1: Ấn tượng bao trùm của em về bài thơ là vẻ đẹp huyền ảo, mê say của một thế giới nghệ thuật đa giác quan. Nguyên nhân là vì Xuân Diệu đã sử dụng những hình ảnh tinh tế (khúc nhạc thơm, khúc nhạc hường, hương thấm qua xương tuỷ…) và kết hợp từ ngữ khác lạ để hoà trộn các cảm giác – khiến người đọc như được dẫn vào một không gian vừa thực vừa mơ, vừa nghe vừa thấy, vừa ngửi vừa nếm.
  • Cách 2: Ấn tượng bao trùm là sự rung động sâu xa của tâm hồn trước cái đẹp. Bài thơ không kể, không tả cụ thể – chỉ mời gọi người đọc buông mình theo khúc nhạc, ngừng hơi thở, lắng nghe trái tim. Cái đẹp trong bài thơ là cái đẹp không nắm bắt được, chỉ có thể cảm nhận bằng trực giác. Đó chính là chất tượng trưng đặc trưng của thơ Xuân Diệu.
  • Cách 3: Bài thơ để lại trong em ấn tượng về một thế giới Du Dương kì diệu – nơi âm nhạc, hương thơm, ánh sáng và những kí ức xa xôi cùng vang lên hoà điệu. Nguyên nhân chính là ở cấu tứ độc đáo của bài thơ: dẫn dắt người đọc từ lắng nghebuông mìnhlẫn lộn các giác quanrung động dư âm sau khi nhạc đã ngừng – như một hành trình đi vào tận cùng cái đẹp.

Câu 4: Những tri thức ngữ văn nào đã học cần được vận dụng để việc đọc và thưởng thức bài thơ đạt hiệu quả?

Để đọc và thưởng thức bài Huyền diệu đạt hiệu quả, cần vận dụng các tri thức ngữ văn đã học, đặc biệt từ Bài 2 – Cấu tứ và hình ảnh trong thơ trữ tình:

  • Cấu tứ trong thơ trữ tình: nắm được hướng phát triển của hình tượng thơ (từ lắng nghe → buông mình → hoà mình → dư âm), từ đó hiểu được mạch cảm xúc của bài thơ.
  • Hình ảnh trong thơ trữ tình: phân tích những hình ảnh giàu sức gợi (khúc nhạc thơm, khúc nhạc hường, giọng suối, lời chim, tiếng khóc người…).
  • Yếu tố tượng trưng trong thơ: nhận diện cách Xuân Diệu hoà trộn cảm nhận của các giác quan, tô đậm tính biểu tượng của hình ảnh, phối hợp âm tiết – nhịp điệu để khơi dậy cảm giác mơ hồ, huyền diệu.
  • Hiện tượng phá vỡ quy tắc ngôn ngữ thông thường (Bài 2 – Thực hành tiếng Việt trang 65): nhận diện các kết hợp từ trái logic trong bài thơ.
  • Ngôn ngữ văn học: hiểu được tính hình tượng, tính thẩm mĩ, tính đa nghĩa của ngôn ngữ thơ.

Câu 5: Chỉ ra những kết hợp từ ngữ mà bạn cho là có tính chất khác thường trong bài thơ

Bài thơ có nhiều kết hợp từ khác thường, trái với logic thông thường – đặc trưng của thơ tượng trưng với nguyên tắc hoà trộn cảm giác các giác quan:

Kết hợp từ khác thường Phân tích
“Khúc nhạc thơm” Nhạc (thính giác) + thơm (khứu giác) – âm thanh có mùi hương.
“Say người như rượu tối tân hôn” Nhạc làm say như rượu – gợi cảm giác ngất ngây, mê đắm.
“Hương thấm tận qua xương tuỷ” Hương vốn vô hình lại có thể “thấm” vào nơi sâu nhất của cơ thể.
“Âm điệu… thấm tận hồn” Âm điệu (thính giác) thấm vào hồn (trừu tượng).
“Khúc nhạc hường” (hồng) Nhạc (thính giác) + màu hồng (thị giác) – âm thanh có màu sắc.
“Uống thơ tan trong khúc nhạc” Uống (vị giác) + thơ (trừu tượng) + nhạc (thính giác) – ba yếu tố hoà quyện.
“Ngọt ngào than gọi thuở xa khơi” Ngọt ngào (vị giác) + than gọi (âm thanh) – tiếng kêu có vị.

→ Những kết hợp ấy thực hiện chính tinh thần đề từ của Bô-đơ-le: “Hương thơm, màu sắc, âm thanh tương ứng với nhau” – biến bài thơ thành một bản hoà tấu kì diệu của các giác quan.

Câu 6: Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) nói về vẻ đẹp của bài thơ theo cảm nhận của bạn

Đoạn văn tham khảo:

Bài thơ Huyền diệu của Xuân Diệu để lại trong em một ấn tượng sâu sắc về vẻ đẹp huyền ảo, mê say của một thế giới nghệ thuật đa giác quan. Lấy cảm hứng từ tuyên ngôn của thơ tượng trưng “Hương thơm, màu sắc, âm thanh tương ứng với nhau” (Bô-đơ-le), Xuân Diệu đã dựng nên một bản hoà tấu kì diệu, nơi các giác quan giao thoa với nhau – “khúc nhạc thơm” có hương, “khúc nhạc hường” có màu, “hương thấm tận qua xương tuỷ”, “uống thơ tan trong khúc nhạc”. Những kết hợp từ tưởng chừng trái logic ấy lại làm hiện lên một vẻ đẹp tinh tế, không thể nắm bắt bằng lí trí mà chỉ có thể cảm nhận bằng tâm hồn. Đặc biệt, em cảm thấy xúc động trước khổ thơ cuối: “Rồi khi khúc nhạc đã ngừng im, / Hãy vẫn ngừng hơi nghe trái tim / Còn cứ run hoài, trong chiếc lá / Sau khi trận gió đã im lìm.” – vẻ đẹp của nghệ thuật, của cuộc sống không chỉ ở khoảnh khắc bùng nổ mà còn ở dư âm ngân vọng mãi sau khi mọi thứ đã lắng xuống. Bài thơ đã dạy em một cách cảm nhận mới: lắng nghe bằng tâm hồn, đón nhận cái đẹp bằng tất cả các giác quan và sự rung động sâu xa của trái tim.

II. VIẾT

Em có thể chọn một trong bốn đề SGK đưa ra. Dưới đây là bài viết mẫu cho Đề 2.

Đề 2: Giới thiệu và phân tích một bài thơ mà bạn cho là có cấu tứ độc đáo.

Dàn ý

Mở bài:

  • Giới thiệu chung về thơ và vai trò của cấu tứ trong thơ trữ tình.
  • Giới thiệu bài thơ Tràng giang (Huy Cận) – một bài thơ tiêu biểu của phong trào Thơ mới có cấu tứ độc đáo.

Thân bài:

  • Khái quát ngắn về tác giả Huy Cận và bài thơ Tràng giang.
  • Phân tích cấu tứ độc đáo của bài thơ:
    • Trục cấu tứ: hình tượng dòng sông – từ một dòng sông hữu hình mở rộng ra thành dòng sông suy tưởng, gắn với nỗi sầu nhân thế và nỗi sầu vũ trụ.
    • Mạch vận động: từ ngoại cảnh → tâm tưởng; từ cụ thể → trừu tượng; từ một mảng sông trước mắt → cả vũ trụ mênh mông.
    • Sự hoà điệu giữa cổ điển và hiện đại: hình ảnh, thi liệu cổ điển (cô liêu, mây núi, hoàng hôn…) hoà với cái tôi cá nhân hiện đại (nỗi cô đơn của con người trước vũ trụ).
  • Đánh giá giá trị nghệ thuật của cấu tứ: tạo nên một bài thơ vừa buồn mà đẹp, vừa cổ điển mà hiện đại, vừa cá nhân mà phổ quát.

Kết bài:

  • Khẳng định giá trị của cấu tứ độc đáo trong Tràng giang.
  • Liên hệ với vai trò của cấu tứ trong việc tạo nên sức sống của một bài thơ.

Bài viết mẫu

Cấu tứ là xương sống của một bài thơ – là khâu then chốt mà người làm thơ phải lựa chọn để tổ chức tất cả các yếu tố hình ảnh, ngôn từ, nhịp điệu… vào một cấu trúc nghệ thuật thống nhất. Một bài thơ có cấu tứ độc đáo sẽ tạo nên sức sống lâu bền và để lại dư âm sâu xa trong lòng người đọc. Tràng giang của Huy Cận – một trong những bài thơ tiêu biểu nhất của phong trào Thơ mới – chính là một tác phẩm như thế.

Tràng giang được Huy Cận sáng tác mùa thu năm 1939, in trong tập Lửa thiêng (1940), khởi nguồn từ những buổi chiều ông đứng ngắm cảnh sông Hồng mênh mang. Bài thơ gồm bốn khổ thất ngôn, mở đầu bằng lời đề từ “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài” – một câu thơ đã hé lộ trục cấu tứ của toàn bài.

Cấu tứ của Tràng giang được tổ chức quanh hình tượng dòng sông – nhưng đó không chỉ là một dòng sông hữu hình. Khổ thơ đầu hiện ra một tràng giang cụ thể: “Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp, / Con thuyền xuôi mái nước song song”. Đến khổ hai, dòng sông bắt đầu gắn với nỗi suy tưởng: cồn nhỏ lơ thơ, làng xa vắng vẻ. Khổ ba mở rộng hơn – “Bèo dạt về đâu hàng nối hàng” – dòng sông trở thành biểu tượng cho nỗi sầu nhân thế, cho thân phận con người trôi nổi giữa cuộc đời. Đến khổ cuối, dòng sông được nâng lên tầm vũ trụ: “Lớp lớp mây cao đùn núi bạc, / Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa” – đó là dòng sông của nỗi sầu vũ trụ, của con người cô đơn trước thiên nhiên mênh mông, vô tận.

Điều độc đáo trong cấu tứ Tràng giangsự vận động từ ngoại cảnh đến tâm tưởng, từ cụ thể đến trừu tượng, từ cái cá nhân đến cái phổ quát. Mỗi khổ thơ là một bước mở rộng không gianđào sâu cảm xúc. Huy Cận đã tài tình hoà điệu giữa chất cổ điển (hình ảnh cô liêu, mây núi, hoàng hôn – gợi nhớ thơ Đường) và chất hiện đại (cái tôi cá nhân với nỗi cô đơn rất riêng của con người thời đại Thơ mới).

Cấu tứ ấy đã tạo nên một Tràng giang vừa buồn mà đẹp, vừa cổ điển mà hiện đại, vừa cá nhân mà phổ quát – một bài thơ mà mỗi lần đọc lại, ta đều có thể tìm thấy những dư âm mới.

Có thể nói, cấu tứ độc đáo chính là linh hồn làm nên sức sống bất tử của Tràng giang. Qua bài thơ này, ta hiểu thêm rằng: một bài thơ hay không chỉ ở những câu chữ tài hoa, mà còn ở cách tổ chức cảm xúc và hình tượng thành một chỉnh thể nghệ thuật độc đáo – đó chính là sức mạnh của cấu tứ.

III. NÓI VÀ NGHE

Em có thể chọn thực hiện một trong ba nội dung SGK gợi ý. Dưới đây là bài nói mẫu cho Nội dung 1.

Nội dung 1: Giới thiệu một tác phẩm truyện nổi tiếng đang được giới trẻ quan tâm tìm đọc.

Dàn ý

Mở đầu:

  • Chào hỏi, giới thiệu bản thân.
  • Đặt vấn đề: vì sao trong thời đại số, vẫn có những tác phẩm truyện thu hút giới trẻ?
  • Giới thiệu tác phẩm sẽ nói tới – Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh (Nguyễn Nhật Ánh).

Nội dung chính:

  • Giới thiệu tác giả Nguyễn Nhật Ánh và lí do tác phẩm được giới trẻ yêu thích.
  • Giới thiệu nội dung chính của tác phẩm (tóm tắt ngắn, không “spoil” quá nhiều).
  • Phân tích giá trị của tác phẩm:
    • Khắc hoạ chân thực thế giới tuổi thơ với những kỉ niệm trong trẻo.
    • Khơi gợi tình cảm gia đình, tình anh em, tình bạn, tình yêu đầu đời.
    • Văn phong mộc mạc, gần gũi, giàu chất thơ.
  • Lí giải vì sao tác phẩm được giới trẻ yêu thích: vì nó chạm vào những cảm xúc trong trẻo nhất, là “khoảng lặng” giữa nhịp sống vội vã.

Kết thúc:

  • Khẳng định giá trị bền vững của tác phẩm.
  • Mời gọi mọi người tìm đọc.
  • Cảm ơn người nghe.

Bài nói mẫu

Xin chào thầy/cô và các bạn! Hôm nay, mình rất vui khi được giới thiệu tới cả lớp một tác phẩm truyện đang được rất nhiều bạn trẻ tìm đọc – đó là Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh.

Có lẽ trong thời đại số, khi giới trẻ bị cuốn vào những video ngắn và mạng xã hội, việc một cuốn sách văn học vẫn được tìm đọc và truyền tay nhau là điều thật đáng quý. Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh chính là một trong những cuốn sách như thế – đã được tái bản hàng chục lần và được chuyển thể thành bộ phim cùng tên gây tiếng vang lớn.

Nguyễn Nhật Ánh là nhà văn quen thuộc với nhiều thế hệ độc giả Việt Nam. Ông được biết đến qua hàng loạt tác phẩm như Kính vạn hoa, Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ, Mắt biếc… với phong cách viết giản dị, trong trẻo, đầy chất thơ.

Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh được xuất bản năm 2010, kể về tuổi thơ của hai anh em Thiều và Tường ở một làng quê miền Trung. Đó là những kỉ niệm về buổi học vỡ lòng, về những chú dế than dế lửa, về cây gáo già trong vườn, về cô bé Mận hàng xóm… Câu chuyện trải dài qua những niềm vui ngây thơ, những hờn dỗi vu vơ và cả những bi kịch tuổi thơ rất thật – một trận lũ kéo qua, một cậu bé bị thương, một tình bạn dở dang…

Điều khiến cuốn sách chinh phục được giới trẻ, theo mình, có ba điểm. Thứ nhất, nó khắc hoạ chân thực thế giới tuổi thơ với những cảm xúc nguyên sơ, trong trẻo nhất – điều mà bất kì ai cũng từng trải qua. Thứ hai, tác phẩm khơi gợi những giá trị nhân văn sâu sắc: tình anh em, tình bạn, tình yêu đầu đời, sự bao dung và lòng tử tế. Thứ ba, văn phong của Nguyễn Nhật Ánh rất mộc mạc, gần gũi mà giàu chất thơ – đọc lên cứ ngỡ như đang được ai đó kể chuyện thuở bé bên hiên nhà.

Mình tin rằng, trong nhịp sống vội vã của tuổi trẻ hôm nay, Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh sẽ là một “khoảng lặng” quý giá – giúp chúng ta nhớ về những điều bình dị mà đẹp đẽ nhất của tuổi thơ, và biết yêu thương những người xung quanh nhiều hơn. Đây cũng chính là lí do mình muốn giới thiệu cuốn sách này tới các bạn – hãy thử một lần đọc, và mình tin các bạn sẽ tìm thấy một phần tuổi thơ của chính mình trong đó.

Mình xin cảm ơn thầy/cô và các bạn đã lắng nghe. Mình rất sẵn lòng nhận thêm những câu hỏi và chia sẻ từ mọi người.

ThS. Nguyễn Thành Đạt

ThS. Nguyễn Thành Đạt

(Người kiểm duyệt, ra đề)

Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Ngữ Văn THPT

Trình độ: Thạc sĩ Ngữ Văn, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ CNTT, Ngoại ngữ B1

Kinh nghiệm: 10+ năm kinh nghiệm tại Trường THPT Hoàng Thế Thiện