Chọn đến phần học sinh cần nhanh chóng thông qua mục lục bằng cách click đến phần đó
- Câu 1: Nêu những dấu hiệu để có thể nhận biết các yếu tố trữ tình trong ba văn bản Ai đã đặt tên cho dòng sông?, "Và tôi vẫn muốn mẹ…", Cà Mau quê xứ
- Câu 2: Phân tích sự độc đáo trong cảm hứng của Hoàng Phủ Ngọc Tường về sông Hương qua đoạn trích Ai đã đặt tên cho dòng sông?
- Câu 3: Đề tài thảo luận – "Để thành công, dứt khoát phải dựa vào nội lực, không cần sự hỗ trợ từ bên ngoài."
- Câu 4: Chọn ba văn bản thuộc các thể loại tuỳ bút, tản văn, truyện kí mà bạn yêu thích; đọc, chỉ ra và phân tích những nét đặc sắc về nghệ thuật của từng văn bản
Câu 1: Nêu những dấu hiệu để có thể nhận biết các yếu tố trữ tình trong ba văn bản Ai đã đặt tên cho dòng sông?, “Và tôi vẫn muốn mẹ…”, Cà Mau quê xứ
Yếu tố trữ tình trong kí có thể được nhận biết qua bốn dấu hiệu chính:
a) Sự hiện diện rõ nét của cái “tôi” tác giả
- Ai đã đặt tên cho dòng sông?: cái “tôi” Hoàng Phủ Ngọc Tường tài hoa, uyên bác, mê đắm với sông Hương – “trong những dòng sông đẹp ở các nước mà tôi thường nghe nói đến, hình như chỉ sông Hương là thuộc về một thành phố duy nhất”.
- “Và tôi vẫn muốn mẹ…”: cái “tôi” của nhân vật Din-na Cô-si-ắc – chứng nhân của chiến tranh, kể lại bằng ngôi thứ nhất, đầy ám ảnh.
- Cà Mau quê xứ: cái “tôi” Trần Tuấn nhẹ nhàng, lãng tử, đến với Cà Mau chỉ để “đi chơi”, “thơ thẩn”.
b) Cảm xúc nồng nàn, đa dạng được bộc lộ trực tiếp
- Tình yêu, niềm tự hào với dòng sông quê hương (Ai đã đặt tên cho dòng sông?).
- Nỗi đau, nỗi nhớ mẹ ám ảnh suốt đời (“Và tôi vẫn muốn mẹ…”).
- Niềm xúc động, lưu luyến trước vùng đất Mũi (Cà Mau quê xứ).
c) Liên tưởng, tưởng tượng phong phú, bay bổng
- Sông Hương như “cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại”, “người mẹ phù sa của một vùng văn hoá xứ sở”, “người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya”.
- Trần Tuấn đốt tập thơ thả xuống biển; “áo trắng của Duyên hắt vào tôi một mảng mây ngàn tuổi”.
d) Ngôn ngữ giàu hình ảnh, nhạc điệu, đậm chất thơ
- Câu văn dài, mềm mại, nhiều từ láy, biện pháp tu từ.
- Sử dụng nhiều so sánh, nhân hoá, ẩn dụ độc đáo.
→ Bốn dấu hiệu trên cùng tạo nên chất trữ tình đặc trưng của tuỳ bút, tản văn – phân biệt với các thể loại kí khác (như phóng sự, kí sự thiên về ghi chép sự kiện).
Câu 2: Phân tích sự độc đáo trong cảm hứng của Hoàng Phủ Ngọc Tường về sông Hương qua đoạn trích Ai đã đặt tên cho dòng sông?
a) Lập dàn ý cho bài viết
Mở bài:
- Giới thiệu Hoàng Phủ Ngọc Tường và bài bút kí Ai đã đặt tên cho dòng sông?.
- Nêu nhận định: dòng sông Hương “không bao giờ tự lặp lại mình trong cảm hứng của các nghệ sĩ” – và ngay chính tác giả cũng có cách cảm nhận rất riêng.
Thân bài:
- Ý 1: Cảm hứng độc đáo về vẻ đẹp biến ảo của sông Hương qua từng chặng thuỷ trình.
- Sông Hương ở thượng nguồn: “bản trường ca của rừng già”, “cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại”.
- Sông Hương khi ra đồng bằng: “người gái đẹp nằm ngủ mơ màng giữa cánh đồng Châu Hoá đầy hoa dại”.
- Sông Hương trong lòng Huế: “điệu slow tình cảm dành riêng cho Huế”.
- Ý 2: Cảm hứng độc đáo qua hệ thống so sánh, nhân hoá đầy chất thơ.
- Sông Hương được nhân hoá như một người con gái với nhiều cung bậc tính cách.
- Liên tưởng với các dòng sông thế giới (Xen, Đa-nuýp, Nê-va) để tô đậm nét riêng của sông Hương.
- Ý 3: Cảm hứng độc đáo trong việc khám phá chiều sâu văn hoá – lịch sử của dòng sông.
- Sông Hương gắn với âm nhạc cổ điển Huế.
- Sông Hương gắn với lịch sử oai hùng của dân tộc.
- Sông Hương trong thơ ca các thi nhân.
- Ý 4: Cảm hứng độc đáo qua ngôn ngữ giàu chất thơ.
- Câu văn dài, mềm mại, nhịp điệu chậm rãi.
- Sử dụng nhiều biện pháp tu từ tài hoa.
Kết bài:
- Khẳng định cảm hứng của Hoàng Phủ Ngọc Tường về sông Hương là độc đáo, không thể lẫn.
- Bài bút kí thể hiện chất tài hoa, lịch lãm và tình yêu sâu nặng của tác giả với xứ Huế.
b) Chọn hai ý và triển khai thành hai đoạn văn có liên kết
Đoạn 1 (triển khai Ý 1):
Sự độc đáo trong cảm hứng của Hoàng Phủ Ngọc Tường trước hết thể hiện ở cách khám phá vẻ đẹp biến ảo của sông Hương qua từng chặng thuỷ trình. Ở thượng nguồn, sông Hương hiện lên như “một bản trường ca của rừng già” – vừa mãnh liệt, hoang dã “rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn, mãnh liệt qua những ghềnh thác”, vừa dịu dàng “say đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng”. Khi ra đồng bằng, dòng sông trở thành “người gái đẹp nằm ngủ mơ màng giữa cánh đồng Châu Hoá đầy hoa dại”, uốn mình mềm mại tìm đường đến với Huế. Và khi chảy vào lòng thành phố, sông Hương lại mang “điệu slow tình cảm dành riêng cho Huế” – chậm rãi, lưu luyến như “một tiếng ‘vâng’ không nói ra của tình yêu”. Chính cái nhìn đa chiều, biến ảo ấy đã giúp tác giả phát hiện ra nhiều vẻ đẹp khác nhau của một dòng sông mà tưởng chừng đã quá quen thuộc.
Đoạn 2 (triển khai Ý 3 – liên kết với đoạn 1):
Không dừng lại ở vẻ đẹp tự nhiên, cảm hứng của Hoàng Phủ Ngọc Tường còn độc đáo ở việc khám phá chiều sâu văn hoá – lịch sử của dòng sông. Sông Hương không chỉ là dòng nước chảy qua Huế mà còn là “người mẹ phù sa của một vùng văn hoá xứ sở” – nơi sinh thành nền âm nhạc cổ điển Huế, nơi Nguyễn Du từng lênh đênh để rồi “những bản đàn đã đi suốt đời Kiều”. Sông Hương cũng là “dòng sông của thời gian ngân vang, của sử thi viết giữa màu cỏ lá xanh biếc” – từng là biên thuỳ thời các vua Hùng, soi bóng kinh thành Phú Xuân của Nguyễn Huệ, và đi vào Cách mạng tháng Tám với những chiến công. Trong cảm hứng của các thi nhân, dòng sông ấy cũng “không bao giờ tự lặp lại mình” – từ “Dòng sông trắng – lá cây xanh” của Tản Đà đến “như kiếm dựng trời xanh” của Cao Bá Quát. Như vậy, sông Hương dưới ngòi bút Hoàng Phủ Ngọc Tường không chỉ là một thực thể địa lí mà là một sinh thể văn hoá – mang trong mình cả chiều dài lịch sử và bề dày tâm hồn dân tộc.
Câu 3: Đề tài thảo luận – “Để thành công, dứt khoát phải dựa vào nội lực, không cần sự hỗ trợ từ bên ngoài.”
a) Chuẩn bị nội dung thảo luận
Đây là đề tài có thể có nhiều quan điểm khác nhau. Em có thể chọn một trong các hướng sau.
- Quan điểm 1 – Đồng ý hoàn toàn:
- Nội lực là yếu tố quyết định nhất: ý chí, nghị lực, năng lực bản thân, sự kiên trì.
- Dẫn chứng: những tấm gương vượt khó (Bác Hồ, Nguyễn Ngọc Ký, Helen Keller…).
- Lập luận: chỉ có nội lực mới giúp ta đứng vững trước thử thách; sự giúp đỡ bên ngoài chỉ là tạm thời.
- Quan điểm 2 – Không đồng ý:
- Sự hỗ trợ bên ngoài cũng rất quan trọng: gia đình, thầy cô, bạn bè, cộng đồng, cơ hội xã hội.
- Dẫn chứng: không ai thành công một mình – Edison có cộng sự, các vận động viên có huấn luyện viên, doanh nhân cần đội ngũ.
- Lập luận: trong thời đại hợp tác và toàn cầu hoá, biết tận dụng nguồn lực bên ngoài là một kĩ năng quan trọng.
- Quan điểm 3 – Dung hoà (cả hai đều cần):
- Nội lực là gốc rễ, là yếu tố quyết định.
- Hỗ trợ bên ngoài là chất xúc tác, điều kiện thuận lợi giúp nội lực phát huy hiệu quả.
- Người thành công thực sự là người biết phát huy nội lực đồng thời biết tận dụng cơ hội từ bên ngoài.
- Dẫn chứng: ngay trong văn bản Cà Mau quê xứ, người dân Đất Mũi vừa cần cù lao động (nội lực) vừa nhận được hỗ trợ từ thị trường, công nghệ (xuất khẩu sang Cam-pu-chia…).
b) Một số lưu ý khi tổ chức thảo luận, tranh luận
- Trình bày ý kiến rõ ràng, có dẫn chứng cụ thể.
- Lắng nghe ý kiến đối lập và phản biện trên cơ sở lập luận, không công kích cá nhân.
- Tôn trọng sự khác biệt – đề tài này không có đáp án duy nhất đúng.
- Đúc kết sau thảo luận: rút ra bài học cho bản thân.
Câu 4: Chọn ba văn bản thuộc các thể loại tuỳ bút, tản văn, truyện kí mà bạn yêu thích; đọc, chỉ ra và phân tích những nét đặc sắc về nghệ thuật của từng văn bản
Đây là câu yêu cầu tự chọn. Em có thể chọn ba văn bản đã học trong Bài 7 hoặc tìm đọc thêm. Dưới đây là gợi ý phân tích nét đặc sắc nghệ thuật của ba văn bản đã học.
a) Ai đã đặt tên cho dòng sông? (Hoàng Phủ Ngọc Tường) – Tuỳ bút
Nét đặc sắc nghệ thuật:
- Sức liên tưởng phong phú, tài hoa: nhân hoá sông Hương như một người con gái với nhiều cung bậc tính cách.
- Phối hợp nhiều biện pháp tu từ: so sánh, nhân hoá, ẩn dụ độc đáo (“như một tiếng ‘vâng’ không nói ra của tình yêu”).
- Kết hợp tự sự và trữ tình nhuần nhuyễn – vừa kể thuỷ trình sông Hương vừa bộc lộ cảm xúc.
- Ngôn ngữ giàu chất thơ, nhạc điệu; câu văn dài, mềm mại.
- Kiến thức văn hoá tổng hợp (địa lí, lịch sử, văn học, âm nhạc) được huy động khéo léo.
b) “Và tôi vẫn muốn mẹ…” (Xvét-la-na A-lếch-xi-ê-vích) – Truyện kí
Nét đặc sắc nghệ thuật:
- Hình thức phỏng vấn nhân chứng – tạo tính xác thực cao.
- Ngôi kể thứ nhất với điểm nhìn trẻ thơ – khiến những sự kiện khốc liệt trở nên ám ảnh.
- Lối kể khách quan, không bình luận – để hiện thực tự lên tiếng.
- Các chi tiết cụ thể, sống động chạm thẳng vào cảm xúc (con ngựa Mai-ca, túi áo đựng cỏ, từ “mẹ”…).
- Câu kết ngắn, ám ảnh: “Tôi đã năm mươi mốt tuổi, tôi có hai con. Và tôi vẫn còn muốn mẹ.”.
c) Cà Mau quê xứ (Trần Tuấn) – Tản văn
Nét đặc sắc nghệ thuật:
- Cái “tôi” tác giả hiện diện rõ nét với tâm thế “đi chơi”, nhẹ nhàng.
- Kết hợp nhiều phương thức biểu đạt: tự sự, miêu tả, biểu cảm, thuyết minh.
- Ngôn ngữ sáng tạo, độc đáo:
- Từ ngữ hiện đại: “ổ cứng xúc cảm”, “xi đi võng mạc”.
- Từ ngữ địa phương Nam Bộ: “dìa”, “ổng”, “xây chừng”.
- Cách kết hợp lạ: “đọt phù sa thơ”, “bát ngát tiếng gà”.
- Liên tưởng phong phú – kết nối hiện tại với các trang văn của Nguyễn Tuân, Anh Đức, Nguyễn Ngọc Tư…
- Cách thể hiện cảm xúc kín đáo – đặc biệt là câu kết: “Không có khói, mà sao bước chân lên tàu rời Mũi, mắt tôi chợt cay nhoè.”.
→ Ba văn bản thuộc ba thể loại khác nhau của kí, mỗi văn bản có những nét đặc sắc nghệ thuật riêng nhưng đều hội tụ những đặc trưng chung: giàu chất trữ tình, đậm dấu ấn cá nhân tác giả, ngôn ngữ giàu hình ảnh và sức gợi.

ThS. Nguyễn Thành Đạt
(Người kiểm duyệt, ra đề)
Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Ngữ Văn THPT
Trình độ: Thạc sĩ Ngữ Văn, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ CNTT, Ngoại ngữ B1
Kinh nghiệm: 10+ năm kinh nghiệm tại Trường THPT Hoàng Thế Thiện
