Chọn đến phần học sinh cần nhanh chóng thông qua mục lục bằng cách click đến phần đó
- I. Lý thuyết trọng tâm
- 1. Ngôn ngữ nói
- 2. Ngôn ngữ viết
- 3. So sánh đặc điểm ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết
- 4. Lưu ý: phân biệt "nói – đọc" và "viết – ghi"
- II. Luyện tập
- Bài tập 1 (SGK trang 36): Nhận xét các đặc điểm của ngôn ngữ nói được mô phỏng, tái tạo trong hai đoạn trích
- Bài tập 2 (SGK trang 38): Phân tích các đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ viết trong đoạn trích
I. Lý thuyết trọng tâm
1. Ngôn ngữ nói
a) Khái niệm và đặc điểm:
- Trong giao tiếp bằng ngôn ngữ nói, người nói và người nghe tiếp xúc trực tiếp với nhau, thay vai luân phiên.
- Người nói ít có điều kiện gọt giũa lời nói; ngược lại, người nghe cũng ít có điều kiện suy ngẫm, phân tích.
- Ngôn ngữ nói có tính biểu cảm, tính cụ thể và tính cá thể cao.
- Nếu không có phương tiện kĩ thuật hỗ trợ thì ngôn ngữ nói chỉ tồn tại nhất thời và được truyền đi trong phạm vi không gian hạn chế.
b) Cách sử dụng:
- Từ ngữ và cách diễn đạt thường ít được chấp nhận trong ngôn ngữ viết:
- Lớp từ mang tính khẩu ngữ (trợ từ, thán từ, từ đưa đẩy, chêm xen…).
- Câu tỉnh lược, câu có yếu tố trùng lặp hay dư thừa.
- Có thể dùng cách phát âm địa phương, từ ngữ địa phương, biệt ngữ.
- Cho phép phát huy tác dụng của ngữ điệu, cử chỉ, điệu bộ, nét mặt để gia tăng hiệu quả giao tiếp.
c) Ví dụ minh hoạ:
“– Chà, câu hỏi này mênh mông ghê. Tôi thích nụ cười nở trên gương mặt một người có tấm lòng nhân hậu. Nhiêu đó đủ rồi.”
(Trích lời nhà văn Nguyễn Ngọc Tư, báo Tuổi Trẻ, 19/12/2010)
→ Trong câu trả lời này có:
- Từ cảm thán: “chà”, “ghê”.
- Từ địa phương Nam Bộ: “nhiêu” (= bấy nhiêu).
2. Ngôn ngữ viết
a) Khái niệm và đặc điểm:
- Người viết và người đọc không có sự tiếp xúc trực tiếp.
- Người viết có thời gian để suy ngẫm, lựa chọn cách biểu đạt; ngôn ngữ viết được gọt giũa.
- Có khả năng lưu trữ thông tin lâu dài và hướng tới phạm vi người đọc rộng lớn.
b) Cách sử dụng:
- Đòi hỏi tuân theo các quy định về chính tả, từ vựng, ngữ pháp, bố cục trình bày, phong cách.
- Có thể dùng câu dài, nhiều thành phần, câu phức tạp.
- Sử dụng hệ thống dấu câu, kí hiệu văn tự, hình ảnh minh hoạ, bảng biểu, sơ đồ để hỗ trợ.
c) Ví dụ minh hoạ:
“Tiếng trống thành phủ gần đấy đã bắt đầu thu không. Trên bốn chòi canh, ngục tốt cũng bắt đầu điểm vào cái quạnh quẽ của trời tối mịt, những tiếng kiểng và mõ đều đặn thưa thớt. Lướt qua cái thăm thẳm của nội cỏ đẫm sương, vẳng từ một làng xa đưa lại mấy tiếng chó cắn ma…”
(Nguyễn Tuân, Chữ người tử tù)
→ Đoạn văn cho thấy đặc trưng của ngôn ngữ viết:
- Câu văn dài, nhịp điệu chậm rãi.
- Cách diễn đạt cầu kì: “Lướt qua cái thăm thẳm của nội cỏ đẫm sương”.
- Trau chuốt từ ngữ và cấu trúc để gợi không khí truyện cổ xưa, trang trọng.
3. So sánh đặc điểm ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết
| Phương diện | Ngôn ngữ nói | Ngôn ngữ viết |
|---|---|---|
| Hoàn cảnh giao tiếp | Tiếp xúc trực tiếp; phản hồi tức khắc; có sự đổi vai | Không tiếp xúc trực tiếp; không đổi vai; có điều kiện suy ngẫm |
| Phương tiện, yếu tố hỗ trợ | Ngữ điệu, âm thanh, nét mặt, cử chỉ, điệu bộ | Dấu câu, kí hiệu văn tự, hình ảnh minh hoạ, bảng biểu, sơ đồ |
| Từ ngữ | Đa dạng; nhiều từ khẩu ngữ, từ địa phương, tiếng lóng, từ chêm xen, đưa đẩy | Chính xác; phù hợp với từng phong cách ngôn ngữ |
| Câu | Câu tỉnh lược, câu rườm rà, có yếu tố trùng lặp hay dư thừa | Câu nhiều thành phần, tổ chức mạch lạc, chặt chẽ |
| Ưu thế | Tự nhiên, giàu sức biểu cảm; phát huy tối đa các yếu tố ngoài ngôn ngữ | Có sự chuẩn bị → chính xác, mạch lạc, chặt chẽ |
4. Lưu ý: phân biệt “nói – đọc” và “viết – ghi”
a) Nói và đọc:
- Giống nhau: đều dùng ngôn ngữ âm thanh.
- Khác nhau:
- Nói: phát sinh trong hoàn cảnh giao tiếp; ý tưởng, tình cảm nảy sinh ngay trong quá trình giao tiếp.
- Đọc: có sẵn văn bản, chỉ chuyển văn bản thành lời.
b) Viết và ghi:
- Giống nhau: đều dùng chữ viết.
- Khác nhau:
- Viết: phát sinh trong hoàn cảnh giao tiếp gián tiếp; ý tưởng, tình cảm nảy sinh thành hoạt động viết.
- Ghi: chuyển ngôn ngữ âm thanh thành văn bản (ví dụ: ghi biên bản, ghi chép bài giảng).
→ Trong thực tế, có hai trường hợp đặc biệt thường gặp:
- Ngôn ngữ nói được ghi lại bằng chữ viết trong văn bản (như lời thoại nhân vật trong truyện).
- Ngôn ngữ viết được trình bày lại bằng lời nói (như đọc diễn văn, thuyết trình).
II. Luyện tập
Bài tập 1 (SGK trang 36): Nhận xét các đặc điểm của ngôn ngữ nói được mô phỏng, tái tạo trong hai đoạn trích
a) Đoạn trích thứ nhất (Kim Lân, Vợ nhặt)
“Hắn giương mắt nhìn thị, không hiểu. Thật ra lúc ấy hắn cũng chưa nhận ra thị là ai. […] – Hôm ấy leo lẻo cái mồm hẹn xuống, thế mà mất mặt. À, hắn nhớ ra rồi, hắn toét miệng cười. – Chả hôm ấy thì hôm nay vậy. Này hãng ngồi xuống ăn miếng giầu đã. – Có ăn gì thì ăn, chả ăn giầu. […] – Rích bố cu, hở!”
Đặc điểm ngôn ngữ nói được mô phỏng:
- Sự thay vai liên tục giữa lời người kể chuyện và lời nhân vật (Tràng, người vợ nhặt) — tái hiện một cuộc đối thoại sinh động.
- Sử dụng nhiều từ cảm thán, từ tình thái, trợ từ mang tính khẩu ngữ: “à”, “hà”, “nhá”, “đấy”, “hở”, “đã”…
- Sử dụng từ ngữ địa phương, từ vay mượn phiên âm kiểu khẩu ngữ: “rích bố cu” (phiên âm từ tiếng Pháp riche beaucoup — rất giàu).
- Câu tỉnh lược, câu ngắn: “Có ăn gì thì ăn, chả ăn giầu.”, “Ăn thật nhá!”.
- Có cử chỉ, điệu bộ kèm theo lời nói được tái hiện qua lời kể: “hắn vỗ vỗ vào túi”, “thị đon đả”, “hắn toét miệng cười”.
Tác dụng: Việc đưa ngôn ngữ nói vào trong văn viết giúp người đọc dễ dàng nắm bắt tâm lí, cảm xúc của nhân vật qua ngôn từ gần gũi, cụ thể; làm nổi bật cuộc gặp gỡ bất ngờ, trớ trêu giữa hai con người điển hình trong nạn đói năm 1945.
b) Đoạn trích thứ hai (Nam Cao, Chí Phèo)
“– Các bà đi vào nhà; đàn bà chỉ lôi thôi, biết gì? […] – Cả các ông, các bà nữa, về đi thôi chứ! Có gì mà xúm lại như thế này? […] – Anh Chí ơi! Sao anh lại làm ra thế? […] – Cái anh này nói mới hay! Ai làm gì anh mà anh phải chết? Đời người chứ có phải con ngoé đâu? Lại say rồi phải không?”
Đặc điểm ngôn ngữ nói được mô phỏng:
- Sử dụng linh hoạt các từ ngữ khẩu ngữ, từ tình thái, hô ngữ: “biết gì”, “ơi”, “rồi”, “ai”, “đâu”, “chứ”, “phải không”…
- Nhiều câu hỏi, câu cảm thán mang sắc thái biểu cảm cao: “Sao anh lại làm ra thế?”, “Cái anh này nói mới hay!”.
- Sử dụng hình ảnh so sánh dân dã: “Đời người chứ có phải con ngoé đâu?”.
- Câu ngắn, ngữ điệu thay đổi linh hoạt: lúc quát mắng (với vợ con), lúc dịu giọng (với dân làng), lúc thân mật (với Chí Phèo).
Tác dụng: Cách sử dụng ngôn ngữ nói thể hiện rõ sự gian xảo, lọc lõi của bá Kiến — chỉ bằng vài câu nói ngắn, ông ta đã xoa dịu được một Chí Phèo say rượu, hung hăng. Qua đó, Nam Cao cho thấy “trọng lượng” của lời nói không chỉ ở từ ngữ trau chuốt, mà ở khả năng nắm bắt tâm lí và điều khiển người nghe.
Bài tập 2 (SGK trang 38): Phân tích các đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ viết trong đoạn trích
“Cái đói đã tràn đến xóm này tự lúc nào. Những gia đình từ những vùng Nam Định, Thái Bình, đội chiếu lũ lượt bồng bế, dắt díu nhau lên xanh xám như những bóng ma, và nằm ngổn ngang khắp lều chợ. Người chết như ngả rạ. […] Ngã tư xóm chợ về chiều càng xác xơ, heo hút. Từng trận gió từ cánh đồng thổi vào, ngăn ngắt. Hai bên dãy phố, úp súp, tối om, không nhà nào có ánh đèn, lửa. Dưới những gốc đa, gốc gạo xù xì, bóng những người đói dật dờ đi lại lặng lẽ như những bóng ma. Tiếng quạ trên mấy cây gạo ngoài bãi chợ cứ gào lên từng hồi thê thiết.”
(Kim Lân, Vợ nhặt)
Các đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ viết được thể hiện trong đoạn trích:
- Sự trau chuốt về từ ngữ:
- Sử dụng nhiều từ láy giàu sức gợi: “lũ lượt”, “ngổn ngang”, “xác xơ”, “heo hút”, “ngăn ngắt”, “úp súp”, “xù xì”, “dật dờ”, “lặng lẽ”, “thê thiết”…
- Sử dụng hình ảnh so sánh giàu sức biểu cảm: “xanh xám như những bóng ma”, “người chết như ngả rạ”, “dật dờ đi lại lặng lẽ như những bóng ma”.
- Cấu trúc câu chặt chẽ:
- Câu văn có nhiều thành phần, được tổ chức mạch lạc.
- Có sự kết hợp câu ngắn và câu dài: câu ngắn (“Người chết như ngả rạ.”) tạo nhịp dồn dập, gây ấn tượng mạnh; câu dài để miêu tả khung cảnh chi tiết.
- Hệ thống dấu câu được sử dụng đầy đủ, chính xác (dấu phẩy, dấu chấm) để ngắt nhịp, tạo ngữ điệu cho đoạn văn.
- Phối hợp nhiều giác quan trong miêu tả:
- Thị giác: dãy phố “úp súp, tối om”, bóng người “dật dờ”.
- Khứu giác: “mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người”.
- Thính giác: “tiếng quạ… gào lên từng hồi thê thiết”.
Tác dụng: Việc sử dụng những đặc trưng của ngôn ngữ viết giúp Kim Lân trau chuốt câu văn, gợi lên một khung cảnh tang tóc, thê lương của xóm ngụ cư khi cái đói tràn về. Con người hiện lên như những bóng ma vật vờ, đợi chờ cái chết. Nạn đói năm Ất Dậu bao trùm cả cảnh vật và con người, mở ra một tương lai đen tối đang chờ đón họ.

ThS. Nguyễn Thành Đạt
(Người kiểm duyệt, ra đề)
Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Ngữ Văn THPT
Trình độ: Thạc sĩ Ngữ Văn, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ CNTT, Ngoại ngữ B1
Kinh nghiệm: 10+ năm kinh nghiệm tại Trường THPT Hoàng Thế Thiện
