Chọn đến phần học sinh cần nhanh chóng thông qua mục lục bằng cách click đến phần đó
I. Tìm hiểu chung
1. Tác giả
- Trần Tuấn (sinh năm 1967), tên khai sinh Trần Ngọc Tuấn, quê ở Hà Nội.
- Là nhà báo, nhà thơ, nhà văn.
- Văn của ông là sự hoà trộn giữa câu từ rành mạch của báo chí và chất bay bổng, thấm đượm chất thơ.
- Tác phẩm tiêu biểu: Ma thuật ngón (thơ, 2008), Đừng gọi tôi là Lại Phiền Hà (kí sự nhân vật, 2008), Chậm hơn sự dừng lại (thơ, 2017), Uống cà phê trên đường của Vũ (tản văn, 2017).
2. Tác phẩm
- Xuất xứ: trích từ tập tản văn Uống cà phê trên đường của Vũ (2017) – những trang ghi chép về cuộc sống, con người ở nhiều vùng đất trong và ngoài nước.
- Thể loại: tản văn.
- Thời điểm sáng tác: Đất Mũi, tháng 5/2006.
- Bố cục (3 phần):
- Phần 1 (từ đầu đến “thơ thẩn với Cà Mau”): Tâm thế của tác giả khi đến Mũi Cà Mau.
- Phần 2 (tiếp đến “tạ ơn người khai sinh ra quê xứ”): Cảm xúc khi đến với Cà Mau.
- Phần 3 (còn lại): Cảm xúc khi rời xa Mũi Cà Mau.
II. Trước khi đọc
Câu 1: Ba tiếng “Mũi Cà Mau” gợi lên trong bạn những suy nghĩ, cảm xúc gì?
Câu hỏi mở, em có thể chọn một trong các cách sau.
- Cách 1: Ba tiếng “Mũi Cà Mau” gợi lên trong em hình ảnh vùng đất cực Nam của Tổ quốc – nơi tận cùng của dải đất hình chữ S thiêng liêng. Em nghĩ đến biển cả mênh mông, rừng đước bạt ngàn, những con người chân chất, hồn hậu của miền Tây Nam Bộ. Đó là một vùng đất em luôn mong được đặt chân đến một lần trong đời.
- Cách 2: Mũi Cà Mau gợi cho em cảm xúc tự hào và xúc động. Đây là điểm tận cùng trên bản đồ Việt Nam, cột mốc thiêng liêng đánh dấu chủ quyền đất nước. Em nghĩ đến cảnh cây đước cắm rễ trong bùn lầy, ngày đêm bồi đắp thêm đất cho Tổ quốc – một hình ảnh đẹp và đầy ý nghĩa.
Câu 2: Bạn đã biết được gì về vùng đất Mũi Cà Mau (qua sách báo, phim ảnh, các phương tiện truyền thông…)?
Câu hỏi mở, em có thể chọn một trong các cách sau.
- Cách 1: Qua sách báo, em biết Mũi Cà Mau là điểm cực Nam của Tổ quốc, có rừng đước, rừng tràm rộng lớn, là vùng đất phù sa vẫn đang bồi đắp lấn ra biển mỗi năm. Đây cũng là vùng đất giàu sản vật: tôm, cua, ghẹ, cá… Người dân nơi đây chủ yếu sống bằng nghề đánh bắt, nuôi trồng thuỷ sản.
- Cách 2: Em từng đọc tác phẩm Đất rừng phương Nam của Đoàn Giỏi nói về vùng đất Nam Bộ với những con kênh, rạch, rừng đước, rừng tràm và những con người hào hiệp, nghĩa khí. Em cũng từng xem các phóng sự về Cà Mau – vùng đất có khí hậu khắc nghiệt nhưng người dân vô cùng chân chất, mộc mạc, gắn bó với sông nước.
III. Trong khi đọc
1. Tác giả đến Mũi Cà Mau với mục đích gì?
- Tác giả đến Mũi Cà Mau chỉ để “đi chơi” – không phải để làm việc gì cụ thể.
- Thực ra “đi chơi” là cách nói để “đánh lừa cái ổ cứng xúc cảm”, đánh lừa giác quan đang “khát thèm hạt phù sa ròng ròng tươi mới” từ thuở xa lắc.
→ Tác giả đến với tâm thế nhẹ nhàng, tự do, để trải nghiệm và cảm nhận vùng đất bằng tất cả giác quan và cảm xúc.
2. Những liên tưởng của tác giả về văn học
- Tác giả nhớ đến Nguyễn Tuân, Anh Đức, Xuân Diệu với những trang kí, trang thơ về Cà Mau hơn bốn mươi năm trước – về một Cà Mau thời kháng chiến với “ngổn ngang xác giặc, hầm chông loang máu sình lầy”.
- Tác giả ưa hơn những trang văn của cô Tư (Nguyễn Ngọc Tư) – về cuộc sống đời thường, hồn nhiên.
- Nhớ chuyện của lão làng Sơn Nam kể về vùng đất Mũi.
→ Liên tưởng văn học cho thấy vốn hiểu biết phong phú và tâm hồn tinh tế của tác giả.
3. Trạng thái tình cảm của tác giả và mọi người khi đến với Mũi Cà Mau
- Tác giả và anh bạn thi sĩ trở thành “những kẻ nông nổi kì quặc”: đốt tập thơ thả xuống biển chỉ vì trong đó có bài thơ về phương Nam viết trong tưởng tượng.
- Mọi người đến đây có đủ kiểu xúc động: “người ôm cây cột mốc, kẻ ôm cây đước, kẻ lại nằm lăn xuống bùn lầy để… khóc vì sướng”, vốc nắm đất, mang chai nước biển về làm kỉ niệm.
→ Tất cả đều mang niềm xúc động đặc biệt, mãnh liệt khi đặt chân đến điểm cực Nam Tổ quốc.
4. Hình ảnh nhà thơ Nguyễn Bính tô đậm thêm tâm trạng gì?
- Tác giả nhớ đến hai câu thơ của Nguyễn Bính: “Quê nhà xa lắc xa lơ đó/ Ngoảnh lại tha hồ mây trắng bay”.
- Liên tưởng đến chàng thi sĩ Nguyễn Bính từng “sáu tháng ngang dọc miền Tây”.
→ Tô đậm thêm tâm trạng nôn nao, nhớ nhà xa quê – dù mới chỉ đi sáu ngày.
5. Từ “xứ” kết nối như thế nào với nhan đề?
- Từ “xứ” được người dân miền Tây dùng rất tự nhiên: “xứ ấy”, “xứ Bạc Liêu”, “xứ xa”, “xứ quê mùa”…
- Tác giả gộp hai chữ “quê” và “xứ” thành “quê xứ” – đặt làm nhan đề.
- “Quê xứ” vừa gợi sự xa lắc, mênh mông của vùng đất, vừa thấm đẫm tình cảm thân thương, gắn bó như quê hương.
6. Cái nhìn của người viết đối với những chi tiết thực của đời sống
- Tác giả quan sát tỉ mỉ, chân thực cảnh chế biến ghẹ ở ngôi nhà số 1 của anh Nguyễn Hoàng Phúc:
- Phân loại ghẹ thành ba loại với giá cụ thể.
- Hấp lên, ướp đông, xuất khẩu sang Cam-pu-chia.
- Vào vụ thuê 20–30 nhân công, mỗi ngày kiếm năm, sáu chục ngàn đồng.
→ Cái nhìn vừa chân thực, cụ thể vừa đồng cảm với cuộc mưu sinh nhọc nhằn của người dân.
7. Những khó khăn, bộn bề mà con người ở Đất Mũi đã trải qua
- Câu chuyện về cây đước và con tôm:
- Một dạo, vạt rừng đước phải nhường chỗ cho con tôm.
- Sau đó, lại đốn hạ đước để có vuông tôm sạch sẽ.
- Vạt đước cứ thế lui dần xa con người.
- Lời “Phó Mũi” Lê Hoàng Liêm: “Cà Mau mà không còn đước thì còn gì nữa đâu”.
→ Cuộc sống mưu sinh đặt người dân vào mâu thuẫn giữa kinh tế và bảo vệ tự nhiên – một thách thức lớn của vùng đất.
8. Cách thể hiện cảm xúc của tác giả ở phần kết
- Tác giả mang theo “cái nhìn lánh đen như than đước” của cô gái không tên gặp ở bến Năm Căn.
- Liên hệ với chi tiết: than đước “không hề có khói”.
- Câu kết: “Không có khói, mà sao bước chân lên tàu rời Mũi, mắt tôi chợt cay nhoè.”.
→ Cảm xúc được thể hiện kín đáo, tinh tế qua một chi tiết bất ngờ – diễn tả niềm lưu luyến, bịn rịn khi rời xa Đất Mũi.
IV. Sau khi đọc – Trả lời câu hỏi
Câu 1: Tác giả có tâm thế như thế nào khi đến với Mũi Cà Mau? Tâm thế đó có ý nghĩa gì đối với người viết tản văn?
a) Tâm thế của tác giả:
- Nhẹ nhàng, thư thái – đến chỉ để “đi chơi”, không có mục đích công việc cụ thể.
- “Lòng tay thơ thẩn với Cà Mau” – thả mình vào vùng đất bằng tất cả các giác quan.
- Mang theo những kí ức về Cà Mau qua các trang văn đã đọc từ thuở xa lắc.
b) Ý nghĩa của tâm thế đó đối với người viết tản văn:
- Đánh thức khả năng khám phá về vùng đất và con người nơi đây.
- Gợi lên cảm xúc mới mẻ, những quan sát và suy ngẫm có chiều sâu.
- Cho phép liên tưởng tự do – kết nối hiện tại với quá khứ, đời thực với trang văn.
- Là điều kiện cần thiết cho sự sáng tạo trong tản văn.
Câu 2: Tính chất tươi mới, sống động của thực tế đời sống con người vùng Đất Mũi được thể hiện qua những khung cảnh, nhân vật nào?
a) Khung cảnh tiêu biểu:
- Ngôi nhà số 1 – ngôi nhà cuối cùng của dải đất hình chữ S, nhà sàn thưng lá dừa nước, nằm cheo leo giữa biển.
- Cảnh chế biến ghẹ: 20–30 nhân công, chủ yếu là chị em, ngồi lột ghẹ lấy thịt, nói cười rộn rảng; phân loại, hấp, ướp đông, xuất khẩu.
- Cuộc sống ở Đất Mũi với cây đước, con tôm – câu chuyện về sự đấu tranh sinh tồn.
b) Nhân vật tiêu biểu:
- Trương Lệ Duyên – cô bé ở Ban quản lí Khu du lịch văn hoá Mũi Cà Mau, hồn nhiên, dễ thương.
- Anh Ba Phúc và chị Tuyết – chủ vựa ghẹ, chân chất, lao động cần cù.
- “Phó Mũi” Lê Hoàng Liêm – nguyên lính biên phòng, “vặn tấm lưng gầy gò”, “gương mặt đen sạm cứ quặn lại” khi nói về cây đước.
- Cô gái không tên ở bến Năm Căn – với cái nhìn “lánh đen như than đước”.
→ Tất cả tạo nên bức tranh sống động, chân thực về cuộc sống lao động và con người Đất Mũi.
Câu 3: Đến với Mũi Cà Mau, tác giả liên tưởng đến những nhà thơ, nhà văn nào đã có duyên nợ với vùng đất này? Những liên tưởng đó có ý nghĩa gì?
a) Các nhà thơ, nhà văn được liên tưởng:
- Nguyễn Tuân – với bút kí Khi nào Bắc Nam đã được thống nhất… và Vẫn cái tiếng dội Cà Mau ấy.
- Anh Đức – với Bức thư Cà Mau.
- Xuân Diệu – với bài thơ Mũi Cà Mau.
- Nguyễn Ngọc Tư (cô Tư) – nhà văn người Cà Mau với những trang văn về đời thường.
- Sơn Nam – với câu chuyện về chùa đảng Cánh Buồm Đen, ông thầy Quýt…
- Nguyễn Bính – với bài Hành phương Nam.
- Nguyễn Thành Long – dịch giả của Quê xứ con người.
b) Ý nghĩa của những liên tưởng:
- Khẳng định sức hấp dẫn, sức hút của vùng đất và con người Cà Mau đối với các nhà văn, nhà thơ qua nhiều thế hệ.
- Cho thấy vốn hiểu biết phong phú và chiều sâu văn hoá của tác giả.
- Tạo nên chiều sâu lịch sử – văn học cho bài tản văn: Cà Mau không chỉ là vùng đất địa lí mà còn là vùng đất văn hoá, văn học.
- Là thách thức đối với chính tác giả khi cầm bút viết về Cà Mau – phải tìm cách thể hiện riêng.
Câu 4: Chất trữ tình được thể hiện như thế nào trong bài tản văn?
Chất trữ tình thể hiện qua cảm xúc đa dạng, độc đáo của tác giả:
- Tâm thế nhẹ nhàng, thư thái khi đến – “đi chơi”, “thơ thẩn với Cà Mau”.
- Niềm xúc động bồi hồi trước những kiểu bày tỏ cảm xúc của các vị khách (ôm cột mốc, ôm cây đước, lăn xuống bùn khóc vì sướng…).
- Sự đồng cảm, thân tình khi quan sát đời sống lao động của người dân (cảnh chế biến ghẹ).
- Suy tư, trăn trở trước câu chuyện cây đước – con tôm.
- Niềm tiếc nuối, lưu luyến kín đáo khi rời Mũi – “mắt tôi chợt cay nhoè”.
- Lời văn giàu cảm xúc, đầy chất thơ – mượn lời cô Tư, lời thơ Nguyễn Bính để bộc lộ tâm trạng.
→ Chất trữ tình bộc lộ vừa trực tiếp, vừa kín đáo, tạo nên chất riêng cho bài tản văn.
Câu 5: Dưới ngòi bút tác giả, sắc màu riêng của vùng Đất Mũi hiện lên như thế nào?
Sắc màu riêng của vùng Đất Mũi hiện lên với những nét đặc trưng:
- Vùng đất tận cùng của Tổ quốc – “doi đất con con”, ngôi nhà số 1, ngôi nhà cuối cùng của dải đất hình chữ S.
- Thiên nhiên đặc biệt – rừng đước bạt ngàn, phù sa bồi đắp, biển cả mênh mông.
- Sản vật phong phú – tôm, ghẹ; than đước “đượm bền hơi lửa và không hề có khói”.
- Con người chân chất, mộc mạc, lao động cần cù – từ chị Tuyết lột ghẹ, “Phó Mũi” Liêm trăn trở về cây đước, đến cô gái có ánh mắt “lánh đen như than đước”.
- Ngôn ngữ địa phương đặc trưng – “xứ”, “dìa”, “ổng”, “lai gai”, “xây chừng”, “ể mình”…
- Văn hoá riêng – gắn với những trang văn của Sơn Nam, Nguyễn Ngọc Tư; với câu hát “Cà Mau là xứ quê mùa…”.
→ Tất cả tạo nên một Cà Mau vừa lạ vừa quen – xa trong khoảng cách địa lí nhưng gần gũi, thân thương trong tâm hồn người Việt.
Câu 6: Nhận xét về cách sử dụng ngôn ngữ và các biện pháp tu từ trong tác phẩm
a) Cách sử dụng ngôn ngữ:
- Kết hợp từ ngữ hiện đại với ngôn ngữ truyền thống:
- Từ hiện đại: “ổ cứng xúc cảm”, “xi đi võng mạc”, “cái phai”, “ổ cứng cũ mèm”.
- Từ cổ: “cố quận”, “thời mạt pháp”.
- Dùng nhiều từ ngữ địa phương Nam Bộ: “dìa”, “ổng”, “xây chừng”, “ể mình”, “thiệt lạ”, “tui”, “dóc tổ”…
- Dùng từ láy giàu sức gợi: “cheo leo”, “lắt lẻo”, “thoăn thoắt”, “rộn rảng”, “chao chao”…
- Cách kết hợp từ độc đáo: “đọt phù sa thơ kèm chút gió Lào cố quận”, “hạt phù sa sinh nở khởi từ hai chữ quê nhà”.
b) Các biện pháp tu từ:
- So sánh: “giọng già Sáng khề khà rặt chất Cánh đồng hoang”, “cái nhìn lánh đen như than đước”.
- Nhân hoá: “những cây đước đóng mình xuống phù sa vóc dáng trầm ngâm”, “bình minh và hoàng hôn của một ngày treo trên cùng một cây đước”.
- Ẩn dụ: “đọt phù sa thơ”, “hạt phù sa sinh nở”.
- Liên tưởng bất ngờ: “áo trắng của Duyên hắt vào tôi một mảng mây ngàn tuổi”.
→ Ngôn ngữ và biện pháp tu từ thể hiện sự sáng tạo, tài hoa của Trần Tuấn – tạo nên chất thơ và sức hấp dẫn riêng cho tản văn.
V. Kết nối đọc – viết
Từ ý của câu “Không có khói, mà sao bước chân lên tàu rời Mũi, mắt tôi chợt cay nhoè.”, hãy viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) nói về cảm xúc của tác giả đối với Mũi Cà Mau.
Đoạn văn tham khảo 1 – Tình yêu kín đáo, sâu lắng với vùng đất Mũi:
Câu kết “Không có khói, mà sao bước chân lên tàu rời Mũi, mắt tôi chợt cay nhoè.” đã gói trọn cảm xúc bịn rịn, lưu luyến của Trần Tuấn với Mũi Cà Mau. Liên hệ với chi tiết than đước “không có khói”, câu văn tạo nên một sự đối lập tinh tế: than đước Cà Mau không có khói, vậy vì sao mắt tác giả lại cay nhoè? Câu trả lời chính là: vì tình yêu, sự gắn bó sâu sắc mà tác giả đã âm thầm gieo vào lòng mình trong suốt chuyến đi. Từ những con người chân chất ở vựa ghẹ, anh “Phó Mũi” trăn trở về cây đước, đến cô gái không tên với ánh mắt “lánh đen như than đước” – tất cả đã trở thành một phần kí ức không thể quên. Cách thể hiện cảm xúc kín đáo qua một chi tiết bất ngờ đã cho thấy tài năng của tác giả – không cần nói nhiều mà vẫn lay động trái tim người đọc về tình yêu với một vùng đất quê hương.
Đoạn văn tham khảo 2 – Cà Mau trở thành “quê xứ” trong lòng tác giả:
Câu kết “Không có khói, mà sao bước chân lên tàu rời Mũi, mắt tôi chợt cay nhoè.” chính là lời khẳng định lặng lẽ rằng Cà Mau đã trở thành “quê xứ” trong lòng tác giả. Đến với Mũi Cà Mau chỉ với tâm thế “đi chơi” nhẹ nhàng, nhưng khi rời đi, Trần Tuấn lại mang theo biết bao nỗi niềm. Đó là sự đồng cảm với cuộc mưu sinh nhọc nhằn của người dân; là suy tư về cây đước, con tôm, về cuộc đấu tranh sinh tồn ở vùng đất tận cùng; là lòng biết ơn với những người đã “khai sinh ra quê xứ”. Và trên tất cả, là tình yêu với mảnh đất cực Nam Tổ quốc – nơi tuy xa xôi về địa lí nhưng gần gũi, thân thương như chính quê hương mình. Câu văn ngắn gọn mà sâu lắng đã làm sáng tỏ chủ đề bài tản văn: Cà Mau – quê xứ – vừa xa vừa gần, vừa lạ vừa thân, đã neo đậu trong tâm hồn người viết.

ThS. Nguyễn Thành Đạt
(Người kiểm duyệt, ra đề)
Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Ngữ Văn THPT
Trình độ: Thạc sĩ Ngữ Văn, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ CNTT, Ngoại ngữ B1
Kinh nghiệm: 10+ năm kinh nghiệm tại Trường THPT Hoàng Thế Thiện
