Chọn đến phần học sinh cần nhanh chóng thông qua mục lục bằng cách click đến phần đó
I. Lý thuyết trọng tâm
1. Biện pháp tu từ nói mỉa
a) Khái niệm: Nói mỉa là biện pháp tu từ thể hiện thái độ mỉa mai hay sự đánh giá mang tính phủ định ngầm ẩn của người nói, người viết đối với sự vật, sự việc được đề cập. Người nói tạo ra sự mâu thuẫn cố ý giữa phần hiển ngôn (bề nổi có vẻ tán thành, khen ngợi, trung lập) và phần hàm ngôn (bên trong là phủ nhận, dè bỉu).
b) Dấu hiệu nhận biết:
- Xuất hiện những từ, cụm từ vốn thể hiện đánh giá tiêu cực về đối tượng (hay ho, hay hớm, đẹp mặt, tốt mã, mèo mù vớ cá rán…); hoặc các từ tích cực (hay, đẹp) nhưng cả cụm lại hàm ý phê phán, chê bai.
- Nêu tình huống, điều kiện phi lí gắn với hành động, sự việc.
- Có sự pha trộn giữa lối nói lịch sự và nói quá.
- Có sự xuất hiện của yếu tố nhại.
- Có sự thay đổi bất ngờ về cách trần thuật, giọng điệu ngay trong một đoạn văn.
c) Ví dụ:
- “Đẹp mặt chưa kìa!” → “đẹp” là tích cực, nhưng cả cụm lại chê bai thái độ, hành động không hay.
- “Hắn mà làm được điều đó thì tôi đi đầu xuống đất!” → nêu điều kiện phi lí để phủ định khả năng của “hắn”.
2. Biện pháp tu từ nghịch ngữ
a) Khái niệm: Nghịch ngữ là biện pháp tu từ trong đó người nói dùng một cụm từ gây ấn tượng mạnh làm nổi bật tính chất hai mặt của một tình thế, tâm trạng, hoặc làm phát lộ sự thật về đối tượng. Nghĩa của nghịch ngữ đối lập với nghĩa của các cụm từ khác trong câu hoặc câu kề bên.
b) Dấu hiệu nhận biết:
- Có sự kết hợp dường như phi lí giữa các từ mang nghĩa đối chọi ngay trong một cụm từ.
- Câu có cụm từ mang tính chất phụ chú khác thường đối với đối tượng được đề cập.
c) Ví dụ:
- “Những việc trắc trở như thế đã làm cho ông già hơn tám mươi tuổi phải chết một cách bình tĩnh“ → “chết” và “bình tĩnh” là hai nghĩa đối chọi kết hợp trong một cụm từ.
3. Mối quan hệ giữa nói mỉa và nghịch ngữ
- Nghịch ngữ thường xuất hiện trong nói mỉa. Khi đó, nói mỉa là mục đích của phát ngôn, còn nghịch ngữ là phương tiện thực hiện mục đích ấy.
II. Thực hành tiếng Việt
Bài tập 1 (SGK tr. 26): Xác định biện pháp tu từ nói mỉa và phân tích hiệu quả
a) “Công chúng luôn luôn vỗ tay hoan hô Xuân, còn trên khán đài, đức vua Xiêm đã lộ ra mặt rồng tất cả sự thịnh nộ của vị thiên tử thế thiên hành đạo ở cái nước có hàng triệu con voi.” (Vũ Trọng Phụng, Số đỏ)
- Biện pháp nói mỉa: cụm từ “ở cái nước có hàng triệu con voi”.
- Phân tích hiệu quả:
- Phần trước tường thuật có vẻ nghiêm túc, khách quan (“vị thiên tử thế thiên hành đạo”), nhưng đến cụm này, độc giả cảm nhận rõ sự chế giễu ngầm ẩn.
- Trọng tâm thông tin chuyển từ ghi chú về một quốc gia sang tính đếm nôm na một đối tượng khác không mấy liên quan.
- “Triệu Voi” (Vạn Tượng) vốn là biệt danh của nước Lào, nhưng ở đây Vũ Trọng Phụng mượn để nói về nước Xiêm – sự “thiếu chính xác” có chủ ý, nhằm thể hiện ý đồ nghệ thuật riêng: hạ bệ, giễu cợt vẻ oai vệ của vua Xiêm.
b) “Trên mép ông, ông đã bao công trình mới cấy được từng ấy râu. […] Thì sau hết, những lông tơ nó cũng dài ra, và trông rõ hơn. Và đến bây giờ, đứng ở hai bên miệng ông, nó thành hình hai cái dấu chua nghĩa (…).” (Nguyễn Công Hoan, Đồng hào có ma)
- Biện pháp nói mỉa: cụm từ “ông đã bao công trình mới cấy được từng ấy râu”.
- Phân tích hiệu quả:
- Cách miêu tả trịnh trọng (“bao công trình”, “cấy được”) một hành động bình thường, tầm thường (mọc râu).
- Cách so sánh mang tính hạ thấp, hạ bệ đối tượng – biến bộ râu thành “hai cái dấu chua nghĩa”, gợi hình ảnh kệch cỡm, buồn cười của nhân vật.
Bài tập 2 (SGK tr. 26): Xác định nghịch ngữ trong các câu có hàm ý mỉa mai và cho biết căn cứ
a) “Như một bậc vĩ nhân nhũn nhặn, nó giơ quả đấm chào loài người, nhảy xuống đất, lên xe hơi.” (Vũ Trọng Phụng, Số đỏ)
- Nghịch ngữ: “giơ quả đấm chào loài người”.
- Căn cứ:
- “Quả đấm” gợi ý niệm về bạo lực, đối kháng.
- “Chào” biểu thị sự thân thiện, hoà đồng.
- Hai từ đối chọi kết hợp trong cùng một hành động, làm bật lên tính chất giả tạo, lố bịch của nhân vật Xuân Tóc Đỏ – một “vĩ nhân” hình thức.
b) “Bước đường công danh của ông cũng bắt đầu từ chức lí trưởng vượt qua những bậc phó tổng, chánh tổng, rồi cơm rượu, bò lợn và quan phủ, quan tỉnh hiệp sức với nhau đưa ông lên ghế nghị viên.” (Ngô Tất Tố, Tắt đèn)
- Nghịch ngữ: “cơm rượu, bò lợn và quan phủ, quan tỉnh hiệp sức với nhau”.
- Căn cứ:
- “Cơm rượu, bò lợn” (đồ vật cụ thể, tầm thường) và “quan phủ, quan tỉnh” (con người, có địa vị) là những đối tượng khác biệt về loại và đẳng cấp, vậy mà bị đánh đồng trong chuỗi liệt kê.
- Từ “hiệp sức” mang hàm ý mỉa mai, khinh miệt: vạch trần bản chất mua quan bán chức, dùng quà cáp để leo lên địa vị của nhân vật.
Bài tập 3 (SGK tr. 27): Phân tích hiệu quả nghệ thuật của việc sử dụng nghịch ngữ
a) “Đá ở đây từ ngàn năm vẫn mai phục hết trong lòng sông, hình như mỗi lần có chiếc thuyền nào xuất hiện ở quãng ầm ầm mà quạnh hiu này, mỗi lần có chiếc nào nhô vào đường ngoặt sông là một số hòn bèn nhổm cả dậy để vồ lấy thuyền.” (Nguyễn Tuân, Người lái đò Sông Đà)
- Nghịch ngữ: “ầm ầm mà quạnh hiu”.
- Hiệu quả nghệ thuật:
- “Ầm ầm” là từ tượng thanh, miêu tả âm thanh lớn, mạnh (của sóng, đá).
- “Quạnh hiu” diễn tả tình trạng vắng vẻ, tĩnh lặng.
- Ghép hai từ đối chọi để diễn tả một trạng thái chung khác thường của không gian sông Đà: vừa dữ dội, hung bạo vừa hoang vu, cô liêu – làm bật lên vẻ đẹp kì vĩ, huyền bí của dòng sông.
b) “Trong lúc ấy, ông nhà báo cấp tiến với xã hội và bảo thủ với gia đình vội vàng lấy bút máy và sổ tay ra ghi chép, coi những lời lẽ quý hoá ấy tựa hồ bật ở miệng một vĩ nhân mà ra…” (Vũ Trọng Phụng, Số đỏ)
- Nghịch ngữ: “nhà báo cấp tiến với xã hội và bảo thủ với gia đình”.
- Hiệu quả nghệ thuật:
- “Cấp tiến” và “bảo thủ” là hai từ có nghĩa đối chọi hoàn toàn.
- Sự kết hợp ấy lật tẩy bản chất hai mặt, giả dối của nhân vật: bề ngoài rao giảng tân tiến nhưng trong nhà lại cổ hủ.
- Buộc độc giả tập trung vào một thông tin lẽ ra chỉ là phụ chú, tạo hiệu quả châm biếm sâu cay.

ThS. Nguyễn Thành Đạt
(Người kiểm duyệt, ra đề)
Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Ngữ Văn THPT
Trình độ: Thạc sĩ Ngữ Văn, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ CNTT, Ngoại ngữ B1
Kinh nghiệm: 10+ năm kinh nghiệm tại Trường THPT Hoàng Thế Thiện
