Soạn bài: Thực hành tiếng Việt: Giữ gìn và phát triển tiếng Việt – Ngữ văn 12

Mục lục [Ẩn]

Chọn đến phần học sinh cần nhanh chóng thông qua mục lục bằng cách click đến phần đó

I. Lý thuyết trọng tâm

1. Chuẩn ngôn ngữ và giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt

a) Khái niệm chuẩn ngôn ngữ:

Chuẩn ngôn ngữ là những quy định nghiêm ngặt đã được xác lập trong quá trình lịch sử ở các phương diện cơ bản: ngữ âm, chính tả (chữ viết), từ ngữ, ngữ pháp… Tuân thủ những quy định ấy góp phần giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.

b) Các biểu hiện vi phạm chuẩn ngôn ngữ:

  • Viết sai chính tả. Ví dụ: “Mọi người đều zui zẻ tán đồng” (đúng: vui vẻ).
  • Lạm dụng từ vay mượn. Ví dụ: “Các bạn cần mang theo computer (đúng: máy tính).
  • Dùng câu sai ngữ pháp. Ví dụ: “Để giảm hiệu ứng nhà kính đòi hỏi chúng ta cần phải trồng nhiều cây xanh” (câu thiếu chủ ngữ).
  • Viết lệch chuẩn chính tả kiểu 9 xác (chính xác), tềnh iu (tình yêu), roài (rồi)… – chỉ dùng trong giao tiếp thân mật, bông đùa, không dùng trong văn bản trang trọng.

c) Sử dụng ngôn ngữ phù hợp ngữ cảnh:

  • Không dùng cách nói thân mật, suồng sã trong ngữ cảnh trang trọng, lịch sự.
  • Tránh cách nói thô tục, thiếu văn hoá.

2. Cách phát triển vốn từ tiếng Việt

Chuẩn ngôn ngữ không phải bất biến. Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt cũng có nghĩa là sáng tạo, bổ sung những yếu tố mới. Có 3 cách cơ bản để phát triển vốn từ:

a) Cấu tạo từ ngữ mới trên cơ sở yếu tố có sẵn.

  • Ví dụ: từ các từ có sẵn kinh tế, số, trí tuệ, nhân tạo, chính phủ, điện tử… → tạo ra kinh tế số, trí tuệ nhân tạo, chính phủ điện tử…

b) Vay mượn từ ngữ của các ngôn ngữ khác.

  • Ví dụ: mít tinh, ma-két-tinh, vắc-xin, virus…

c) Thêm nghĩa mới cho từ ngữ đã có.

  • Ví dụ: từ bệnh viện ngoài nghĩa gốc còn dùng trong kết hợp bệnh viện máy tính với nghĩa “nơi sửa chữa”.
  • Từ ảo ngoài nghĩa gốc còn dùng trong sống ảo với nghĩa “xa rời thực tế”.

II. Thực hành tiếng Việt

Bài tập 1 (SGK tr. 114): Xác định dấu hiệu người viết không tuân thủ chuẩn tiếng Việt

a) “Tôi đã xem bộ phim đó rùi nhưng không thích lém.”

  • Lỗi: viết sai chính tả“rùi” (đúng: rồi), “lém” (đúng: lắm).
  • Đây là kiểu viết lệch chuẩn chính tả, thường gặp trong tin nhắn thân mật, không phù hợp trong văn bản chuẩn mực.

b) “Nhà trường quy định học sinh không được ghi các comment vào sách mượn của thư viện.”

  • Lỗi: lạm dụng từ vay mượn“comment” (đúng: lời bình luận, nhận xét, ghi chú).
  • Tiếng Việt có từ tương đương nhưng lại dùng từ tiếng Anh – không cần thiết.

c) Do sự phát triển của trí tuệ nhân tạo khiến cho việc lựa chọn ngành nghề ngày nay có sự thay đổi mạnh mẽ và sâu sắc.”

  • Lỗi: dùng câu sai ngữ pháp – câu thiếu chủ ngữ do dùng đồng thời “do”“khiến cho”.
  • Sửa: bỏ từ “do” (hoặc bỏ cụm “khiến cho”):
    • “Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo khiến cho việc lựa chọn ngành nghề ngày nay có sự thay đổi mạnh mẽ và sâu sắc.”
    • “Do sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, việc lựa chọn ngành nghề ngày nay có sự thay đổi mạnh mẽ và sâu sắc.”

Bài tập 2 (SGK tr. 114): Tìm những từ ngữ mới thể hiện sự phát triển của tiếng Việt

a) Nhóm cấu tạo trên cơ sở yếu tố có sẵn (như thư viện số, kinh tế tri thức, chính phủ điện tử, cư dân mạng, công dân toàn cầu):

  • thương mại điện tử, ngân hàng số, học trực tuyến, lớp học ảo, trường học thông minh, đô thị thông minh, thẻ căn cước điện tử, nhà thông minh, ví điện tử, chữ ký số, xã hội số, hộ chiếu vắc-xin…

b) Nhóm vay mượn từ ngôn ngữ khác (như photocopy, video, VIP):

  • internet, wifi, laptop, smartphone, marketing, email, online, offline, livestream, blog, vlog, showbiz, PR, CEO, IELTS, TOEIC, USB, GPS…

Bài tập 3 (SGK tr. 114 – 115): Nghĩa khác nhau của các từ in đậm

a) Từ “say” trong đoạn thơ:

Câu thơ Nghĩa
“Các cụ ông say thuốc” Trạng thái ngất ngây, mê man do tác động của thuốc lá, thuốc lào.
“Các cụ bà say trầu” Trạng thái lâng lâng do ăn trầu.
“Chỉ nhìn mà say nhau” Trạng thái đắm đuối, si mê, xao xuyến trước người mình yêu.
  • Nghĩa có trước: trạng thái ngất ngây, mê man do tác động của chất kích thích (thuốc, trầu, rượu…) – nghĩa cụ thể, vật chất.
  • Nghĩa có sau: trạng thái đắm đuối, mê mẩn trước một đối tượng (người, cảnh vật, tình cảm…) – nghĩa trừu tượng, tinh thần.
  • Cơ sở suy đoán: trong sự phát triển ngôn ngữ, nghĩa cụ thể thường có trước; sau đó, dựa trên nét tương đồng (đều là trạng thái ngây ngất, mất tỉnh táo), nghĩa được mở rộng, chuyển sang trừu tượng.

b) Cụm từ “chữa cháy”:

Câu Nghĩa
“Đội cứu hoả đến chữa cháy kịp thời…” Dập tắt đám cháy thực sự (nghĩa cụ thể).
“Đó chỉ là phương án chữa cháy…” Biện pháp tạm thời để giải quyết tình huống bất ngờ, chưa được chuẩn bị (nghĩa trừu tượng).
  • Nghĩa có trước: dập tắt lửa – nghĩa cụ thể, gốc.
  • Nghĩa có sau: giải pháp tạm thời, đối phó với tình huống cấp bách – nghĩa trừu tượng, phái sinh.
  • Cơ sở suy đoán: dựa vào nét tương đồng “khẩn cấp, xử lí gấp gáp”, người Việt đã mở rộng nghĩa của “chữa cháy” từ dập lửa sang giải quyết mọi tình huống bất ngờ.

Bài tập 4 (SGK tr. 115): Phân tích cách dùng từ ngữ rất riêng của Xuân Diệu

Đoạn thơ:

Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều Và non nước, và cây, và cỏ rạng, Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng, Cho no nê thanh sắc của thời tươi; Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!

Cách dùng từ ngữ rất riêng của Xuân Diệu:

  • Trật tự từ bất thường: “Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều – theo trật tự thông thường phải là “Ta muốn thâu nhiều trong một cái hôn”.
  • Kết hợp từ bất thường: “thâu trong một cái hôn” – cụm từ lạ, không có trong lối nói quen thuộc.
  • Cụm từ ghép các trạng thái, cảm giác không theo cách bình thường:
    • “chếnh choáng mùi thơm” – lấy trạng thái của rượu ghép với mùi.
    • “đã đầy ánh sáng” – trạng thái của thức uống ghép với ánh sáng.
    • “no nê thanh sắc” – trạng thái của ăn uống ghép với thanh sắc.
    • “cắn vào ngươi” (xuân hồng) – hành động của ăn ghép với mùa xuân.
  • Điệp từ “và” xuất hiện liên tiếp: non nước, cây, cỏ rạng”.

-> Những cách dùng này tạo nên giọng thơ mới mẻ, mãnh liệt của Xuân Diệu – vừa giàu cảm giác vừa táo bạo, thể hiện khát khao tận hưởng cuộc sống bằng tất cả giác quan.

Bài tập 5 (SGK tr. 115): Cách diễn đạt “Tây” của Xuân Diệu

a) Những cách diễn đạt có thể được gọi là “Tây”:

  • Kết hợp từ lạ: “chếnh choáng mùi thơm”, “đã đầy ánh sáng”, “no nê thanh sắc”, “cắn vào ngươi” – kết hợp trạng thái vật chất với cảm giác trừu tượng – cách nói không quen thuộc trong tiếng Việt truyền thống.
  • Điệp từ “và” liên tiếp: non nước, cây, cỏ rạng”phép lặp liên từ khá phổ biến trong văn chương phương Tây nhưng ít gặp trong thơ ca truyền thống Việt Nam.

b) Ấn tượng về nét “Tây” hiện nay:

Câu hỏi mở, em có thể chọn một trong các cách sau.

  • Cách 1: Hiện nay, ấn tượng về nét “Tây” trong cách diễn đạt của Xuân Diệu đã giảm đi rất nhiều. Những cách kết hợp từ trước đây bị coi là lạ lẫm nay đã trở thành quen thuộc, được chấp nhận rộng rãi. Điều đó cho thấy tiếng Việt là ngôn ngữ sống, luôn phát triển và tiếp thu cái mới. Cách nói của Xuân Diệu đã đóng góp vào sự phong phú của tiếng Việt.
  • Cách 2: Em nhận xét rằng nét “Tây” trong cách diễn đạt của Xuân Diệu ngày nay không còn xa lạ như trước, thậm chí còn được coi là đặc sắc, cách tân. Điều đó chứng tỏ những sáng tạo ngôn ngữ ban đầu bị chê có thể trở thành chuẩn mực mới nếu được cộng đồng đón nhận. Đây là quy luật vận động của ngôn ngữ – biết tiếp nhận cái hay để phát triển.

Bài tập 6 (SGK tr. 115): Tìm dẫn chứng cho thấy sự độc đáo trong cách sử dụng tiếng Việt của các nhà văn, nhà thơ

Câu hỏi mở, em có thể chọn một trong các cách sau.

  • Cách 1 – Nguyễn Du trong Truyện Kiều:
    • “Cỏ non xanh tận chân trời” – từ “tận” làm cho không gian trải dài đến vô tận.
    • “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” – cách nói làm bật lên mối quan hệ giữa tâm cảnhngoại cảnh.
    • “Hoa cười ngọc thốt đoan trang”nhân hoá táo bạo, khiến hoa và ngọc như biết cười, biết nói.
  • Cách 2 – Xuân Diệu: ngoài Vội vàng còn có nhiều câu thơ độc đáo:
    • “Tháng Giêng ngon như một cặp môi gần” – lấy vẻ đẹp con người làm chuẩn cho vẻ đẹp thiên nhiên.
    • Mùi tháng, năm đều rớm vị chia phôi” – dùng cảm giác vị giác, khứu giác cho thời gian – ẩn dụ chuyển đổi cảm giác táo bạo.
  • Cách 3 – Hồ Xuân Hương:
    • Bảy nổi ba chìm với nước non” (Bánh trôi nước) – dùng thành ngữ dân gian một cách sáng tạo.
    • Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám / Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn” – dùng động từ mạnh, đảo ngữ – tạo giọng thơ mạnh mẽ, cá tính.
  • Cách 4 – Tố Hữu: “Ta đi ta nhớ những ngày / Mình đây ta đó, đắng cay ngọt bùi” – dùng đại từ mình – ta trong quan hệ mới, thấm đẫm tình cảm cách mạng.

-> Các nhà văn, nhà thơ đã đóng góp lớn cho sự phát triển của tiếng Việt bằng cách sáng tạo những cách dùng từ mới, làm phong phú khả năng biểu đạt của ngôn ngữ dân tộc.

ThS. Nguyễn Thành Đạt

ThS. Nguyễn Thành Đạt

(Người kiểm duyệt, ra đề)

Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Ngữ Văn THPT

Trình độ: Thạc sĩ Ngữ Văn, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ CNTT, Ngoại ngữ B1

Kinh nghiệm: 10+ năm kinh nghiệm tại Trường THPT Hoàng Thế Thiện