Ôn tập học kì 2 (Hệ thống hóa kiến thức đã học) – Ngữ văn 12

Câu 1: Liệt kê và chia nhóm các văn bản đọc có trong SGK Ngữ văn 12, tập hai theo loại văn bản và thể loại văn học. Nêu tên những văn bản thuộc một thể loại văn học chưa được học trước đó (nếu có)

a) Phân loại các văn bản đọc theo loại và thể loại:

Loại văn bản Thể loại Văn bản
Văn bản văn học Thơ trữ tình Mộ (Chiều tối), Nguyên tiêu (Rằm tháng giêng), Vọng nguyệt, Cảnh khuya (Hồ Chí Minh); Vội vàng (Xuân Diệu)
Truyện ngắn Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu (Nguyễn Ái Quốc)
Tiểu thuyết Trở về – trích Ông già và biển cả (Hê-minh-uê)
Nghệ thuật băm thịt gà (Ngô Tất Tố); Bước vào đời (Đào Duy Anh); Vĩ tuyến 17; Khúc đồng quê (Đặng Thị Hạnh)
Kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt (Lưu Quang Vũ)
Văn bản nghị luận Nghị luận chính trị – xã hội Tuyên ngôn Độc lập (Hồ Chí Minh); bài học về tác gia Hồ Chí Minh
Văn bản thông tin Văn bản thông tin tổng hợp Pa-ra-na; Giáo dục khai phóng Việt Nam nhìn từ Đông Kinh Nghĩa Thục; Đời muối; Sách thay đổi lịch sử loài người

b) Thể loại/kiểu bài chưa được học trước đó:

  • Bài học về tác gia văn học (bài về Hồ Chí Minh) – kiểu bài mới, giúp học sinh tìm hiểu tổng thể về cuộc đời, sự nghiệp và phong cách nghệ thuật của một tác gia lớn.
  • Kí văn học hiện đại với những đặc trưng nghệ thuật riêng (thể hiện qua Nghệ thuật băm thịt gà, Bước vào đời, Vĩ tuyến 17, Khúc đồng quê).

Câu 2: Phân tích mối quan hệ mật thiết giữa Yêu cầu cần đạt và phần Tri thức ngữ văn ở mỗi bài học trong SGK Ngữ văn 12, tập hai. Nêu tác dụng thiết thực của việc nắm bắt các khái niệm then chốt được giới thuyết ở phần Tri thức ngữ văn đối với việc đọc hiểu các văn bản có trong từng bài học

a) Mối quan hệ giữa Yêu cầu cần đạtTri thức ngữ văn:

  • Yêu cầu cần đạt: nêu mục tiêu về kĩ năng, năng lực, phẩm chất mà học sinh cần đạt được sau bài học.
  • Tri thức ngữ văn: cung cấp hệ thống khái niệm, kiến thức nền tảng về thể loại, đặc trưng nghệ thuật, phong cách… liên quan đến bài học.
  • Mối quan hệ: hai phần này gắn bó, hỗ trợ chặt chẽ:
    • Tri thức ngữ văncông cụ giúp thực hiện Yêu cầu cần đạt.
    • Yêu cầu cần đạt chỉ ra những kiến thức nào trong Tri thức ngữ văn cần vận dụng.

b) Tác dụng thiết thực:

  • Giúp học sinh có “chìa khoá” để đọc hiểu đúng hướng các văn bản trong bài.
  • Định hướng cách phân tích, đánh giá (biết cần chú ý vào yếu tố nào của thể loại).
  • Cung cấp thuật ngữ chuyên môn để diễn đạt cảm nhận, ý kiến một cách chính xác, thuyết phục.
  • Ví dụ: nắm được khái niệm “nguyên lí tảng băng trôi” trong Tri thức ngữ văn Bài 9 sẽ giúp học sinh hiểu được vẻ đẹp của Trở về (Hê-minh-uê) – vẻ đẹp của ngôn ngữ kiệm lời nhưng giàu ý nghĩa ngầm ẩn.

Câu 3: Các văn bản đọc ở Bài 6 (Hồ Chí Minh – “Văn hoá phải soi đường cho quốc dân đi”) thuộc những loại văn bản và thể loại văn học nào? Nêu lí do dẫn đến sự đa dạng về loại, thể loại của các văn bản được chọn học ở đây, xét từ góc độ người sáng tác và từ đặc trưng của bài học về tác gia

a) Các văn bản ở Bài 6 và thể loại:

  • Nghị luận chính trị: Tuyên ngôn Độc lập (Hồ Chí Minh); bài học về tác gia Hồ Chí Minh.
  • Truyện ngắn: Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu (Nguyễn Ái Quốc).
  • Thơ trữ tình: Mộ (Chiều tối), Nguyên tiêu (Rằm tháng giêng); thực hành đọc Vọng nguyệt, Cảnh khuya (Hồ Chí Minh).

b) Lí do dẫn đến sự đa dạng về loại, thể loại:

  • Xét từ góc độ người sáng tác: Hồ Chí Minh là nhà văn hoá lớn, có sự nghiệp văn học đa dạng, phong phú. Người sáng tác cả văn chính luận sắc bén, truyện ngắn giàu tính chiến đấu và thơ ca thấm đẫm chất trữ tình – cổ điển. Vì vậy, việc chọn nhiều thể loại phản ánh đúng bản chất đa diện trong sáng tác của Người.
  • Xét từ đặc trưng của bài học về tác gia: bài học về tác gia cần giới thiệu toàn diện về sự nghiệp văn học của một cây bút lớn. Học sinh cần được tiếp xúc trực tiếp với các thể loại tiêu biểu để hiểu sâu sắc phong cách và đóng góp của tác gia. Sự đa dạng thể loại giúp học sinh nhận ra tài năng đa dạnggiá trị nhiều mặt của di sản văn học Hồ Chí Minh.

Câu 4: SGK Ngữ văn 12, tập hai đã hướng dẫn thực hành tiếng Việt theo những nội dung gì? Nêu ý nghĩa của việc thực hành những nội dung đó đối với việc khám phá nét đặc sắc về mặt ngôn ngữ của các văn bản đọc

a) Các nội dung thực hành tiếng Việt trong kì 2:

Bài Nội dung thực hành tiếng Việt
Bài 6 Một số biện pháp làm tăng tính khẳng định, phủ định trong văn bản nghị luận
Bài 7 Ngôn ngữ trang trọngngôn ngữ thân mật
Bài 8 Tôn trọng và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ
Bài 9 Giữ gìn và phát triển tiếng Việt

b) Ý nghĩa đối với việc khám phá nét đặc sắc về mặt ngôn ngữ:

  • Nội dung thực hành tiếng Việt gắn chặt với đặc trưng ngôn ngữ của các văn bản trong bài, giúp học sinh thấy rõ tính hiệu quả của các phương tiện ngôn ngữ trong việc thể hiện nội dung, tư tưởng.
  • Ví dụ: học về biện pháp tăng tính khẳng định, phủ định ở Bài 6 giúp học sinh cảm nhận sâu sắc sức mạnh lập luận của Tuyên ngôn Độc lập.
  • Học về ngôn ngữ trang trọng và thân mật ở Bài 7 giúp phân biệt các sắc thái ngôn ngữ trong tác phẩm kí.
  • Giúp học sinh nâng cao năng lực sử dụng tiếng Việt trong giao tiếp và sáng tạo văn bản.
  • Bồi dưỡng ý thức trách nhiệm trong việc giữ gìn sự trong sángphát triển tiếng Việt.

Câu 5: Xem sơ đồ về Văn học Việt Nam và thực hiện các yêu cầu

a) Diễn giải sơ đồ Văn học Việt Nam:

b) Ghi tên tác phẩm văn học dân gian tiêu biểu (đã học từ lớp 6 – 10):

  • Thần thoại: Thần Trụ Trời, Prô-mê-tê và loài người
  • Sử thi: Đăm Săn (Ê-đê), Đẻ đất đẻ nước (Mường)…
  • Truyền thuyết: Thánh Gióng, Sơn Tinh – Thuỷ Tinh, An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thuỷ
  • Truyện cổ tích: Tấm Cám, Cây khế, Sọ Dừa
  • Truyện cười: Tam đại con gà, Nhưng nó phải bằng hai mày
  • Truyện ngụ ngôn: Ếch ngồi đáy giếng, Thầy bói xem voi, Đẽo cày giữa đường
  • Truyện thơ dân gian: Tiễn dặn người yêu
  • Ca dao: các bài ca dao về tình cảm gia đình, tình yêu quê hương, tình yêu lứa đôi…
  • Tục ngữ: các câu tục ngữ về thiên nhiên, lao động, con người, xã hội…

c) Ghi tên tác phẩm văn học viết tiêu biểu (đã học từ lớp 6 – 12):

VĂN HỌC TRUNG ĐẠI:

  • Thế kỉ X – XIV:
    • Chữ Hán: Nam quốc sơn hà (Lí Thường Kiệt – thơ), Hịch tướng sĩ (Trần Quốc Tuấn – nghị luận), Bạch Đằng giang phú (Trương Hán Siêu – phú)
    • Chữ Nôm: bắt đầu xuất hiện
  • Thế kỉ XV – XVII:
    • Chữ Hán: Bình Ngô đại cáo (Nguyễn Trãi – cáo), Truyền kì mạn lục (Nguyễn Dữ – truyện)
    • Chữ Nôm: Quốc âm thi tập (Nguyễn Trãi – thơ), thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm
  • Thế kỉ XVIII – XIX:
    • Chữ Hán: thơ Cao Bá Quát, Thượng kinh kí sự (Lê Hữu Trác – kí)
    • Chữ Nôm: Truyện Kiều (Nguyễn Du – truyện thơ), Chinh phụ ngâm (Đặng Trần Côn – Đoàn Thị Điểm – ngâm khúc), thơ Hồ Xuân Hương, thơ Nguyễn Khuyến, thơ Tú Xương

VĂN HỌC HIỆN ĐẠI:

  • Đầu thế kỉ XX – 1945:
    • Thơ mới: Vội vàng (Xuân Diệu), Tràng giang (Huy Cận), Đây thôn Vĩ Dạ (Hàn Mặc Tử)…
    • Văn xuôi hiện thực: Chí Phèo (Nam Cao), Số đỏ (Vũ Trọng Phụng), Tắt đèn (Ngô Tất Tố)…
    • Nghị luận: Tuyên ngôn Độc lập (Hồ Chí Minh)…
  • 1945 – 1975:
    • Thơ: Tây Tiến (Quang Dũng), Việt Bắc (Tố Hữu), Đất nước (Nguyễn Khoa Điềm)…
    • Truyện, tiểu thuyết: Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài), Vợ nhặt (Kim Lân), Rừng xà nu (Nguyễn Trung Thành)…
    • Kí: Người lái đò Sông Đà (Nguyễn Tuân), Ai đã đặt tên cho dòng sông? (Hoàng Phủ Ngọc Tường)
  • 1975 – đầu thế kỉ XXI:
    • Kịch: Hồn Trương Ba, da hàng thịt (Lưu Quang Vũ)
    • Tiểu thuyết: Mùa lá rụng trong vườn (Ma Văn Kháng), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh)
    • Kí: Khúc đồng quê (Đặng Thị Hạnh), Bước vào đời (Đào Duy Anh)

d) Nhận xét khái quát về lịch sử phát triển của văn học Việt Nam:

  • Văn học Việt Nam có quá trình phát triển lâu dài, liên tục qua nhiều thời kì.
  • Văn học dân gian ra đời sớm, gắn bó với đời sống lao động và tâm hồn nhân dân, làm nền tảng cho văn học viết.
  • Văn học viết trung đại trải qua 10 thế kỉ, có hai loại hình song song: chữ Hán (mang tính bác học) và chữ Nôm (mang đậm bản sắc dân tộc). Đây là giai đoạn hình thành nhiều tác gia lớnthể loại đặc trưng.
  • Văn học viết hiện đại phát triển mạnh mẽ với nhiều đổi mới: chuyển sang chữ Quốc ngữ, tiếp thu tinh hoa văn học thế giới, đa dạng về thể loại, phong cách, phản ánh sinh động các biến động lịch sử – xã hội của đất nước.
  • Nhìn chung, văn học Việt Nam là một dòng chảy liên tục, luôn kế thừa và đổi mới, thể hiện tâm hồn, bản sắcước vọng của dân tộc qua các thời đại.

Câu 6: Liệt kê những kiểu bài viết đã được luyện tập trong học kì II. Theo bạn, kiểu bài viết nào trong số đó có khả năng ứng dụng cao hơn cả? Vì sao?

a) Các kiểu bài viết đã luyện tập trong học kì II:

Bài Kiểu bài viết
Bài 6 Viết báo cáo kết quả của bài tập dự án
Bài 7 Viết bài văn nghị luận bàn về một vấn đề liên quan đến tuổi trẻ (cách ứng xử trong các mối quan hệ gia đình, xã hội)
Bài 8 Viết thư trao đổi về công việc hoặc một vấn đề đáng quan tâm
Bài 9 Viết bài phát biểu trong lễ phát động một phong trào hoặc một hoạt động xã hội

b) Kiểu bài viết có khả năng ứng dụng cao nhất:

Câu hỏi mở, em có thể chọn một trong các cách sau.

  • Cách 1 – Thư trao đổi về công việc: Em cho rằng kiểu bài viết thư trao đổi có khả năng ứng dụng cao nhất. Vì trong cuộc sống hằng ngày và công việc tương lai, mỗi người đều thường xuyên phải giao tiếp qua thư từ, email để trao đổi công việc, giải quyết vấn đề. Kĩ năng này rất thiết thực, giúp học sinh chuẩn bị cho công việc chuyên nghiệp sau này.
  • Cách 2 – Bài phát biểu: Em nghĩ bài phát biểu trong lễ phát động phong trào có ứng dụng cao. Trong cuộc sống, học sinh thường được yêu cầu phát biểu trong các buổi lễ ở trường, ở lớp, ở tổ chức Đoàn – Đội. Kĩ năng này giúp học sinh tự tin thể hiện quan điểm trước đám đông và có sức lan toả tích cực.
  • Cách 3 – Báo cáo dự án: Em cho rằng báo cáo kết quả bài tập dự án có ứng dụng cao vì trong học tập, nghiên cứu và cả trong công việc sau này, chúng ta luôn phải trình bày kết quả một cách khoa học, có hệ thống. Kĩ năng viết báo cáo là kĩ năng cơ bản không thể thiếu.

Câu 7: Trong SGK Ngữ văn 12, tập hai, sự phong phú của hoạt động nói và nghe đã được thể hiện như thế nào? Phân tích một ví dụ cho thấy hoạt động nói và nghe ở lớp cuối cấp có những đòi hỏi cao hơn về kiến thức và kĩ năng so với hoạt động đó ở các lớp dưới

a) Sự phong phú của hoạt động nói và nghe trong học kì II:

Bài Hoạt động nói và nghe
Bài 6 Trình bày kết quả của bài tập dự án
Bài 7 Trình bày quan điểm về một vấn đề liên quan đến tuổi trẻ (cách ứng xử trong các mối quan hệ)
Bài 8 Tranh biện về một vấn đề đời sống
Bài 9 Thuyết trình về một vấn đề liên quan đến cơ hội và thách thức đối với đất nước

-> Các hoạt động đa dạng: từ trình bày, thuyết trình đến tranh biện – đòi hỏi các kĩ năng khác nhau, hướng đến nhiều mục tiêu giao tiếp.

b) Ví dụ phân tích – Tranh biện về một vấn đề đời sống (Bài 8):

  • Ở các lớp dưới, học sinh chủ yếu kể chuyện, trình bày ý kiến cá nhân đơn giản về một vấn đề quen thuộc.
  • Ở lớp 12, hoạt động tranh biện đòi hỏi những kĩ năng cao hơn rất nhiều:

Về kiến thức:

  • Cần có hiểu biết sâu rộng về vấn đề (thực trạng, nguyên nhân, hậu quả, giải pháp).
  • Cần dẫn chứng thực tế, số liệu thuyết phục.
  • Cần hiểu được quan điểm đối lập để phản biện lại.

Về kĩ năng:

  • Kĩ năng lập luận chặt chẽ, logic: đưa ra luận điểm – lí lẽ – dẫn chứng đầy đủ.
  • Kĩ năng phản biện linh hoạt: lắng nghe đối phương, nắm bắt điểm yếu để phản bác.
  • Kĩ năng kiểm soát cảm xúc, thái độ tôn trọng đối phương ngay cả khi bất đồng.
  • Kĩ năng sử dụng ngôn ngữ chính xác, thuyết phục.

-> Có thể thấy, hoạt động tranh biện ở lớp 12 không còn dừng ở việc nói lên suy nghĩ của mình mà đã tiến tới đối thoại – phản biện – thuyết phục – những kĩ năng cần thiết cho việc học tập ở bậc cao hơn và cho cuộc sống sau này.

ThS. Nguyễn Thành Đạt

ThS. Nguyễn Thành Đạt

(Người kiểm duyệt, ra đề)

Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Ngữ Văn THPT

Trình độ: Thạc sĩ Ngữ Văn, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ CNTT, Ngoại ngữ B1

Kinh nghiệm: 10+ năm kinh nghiệm tại Trường THPT Hoàng Thế Thiện